Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

3 - NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT VỪA LÀ THÀY CỦA TÔI.

3 - NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT VỪA LÀ THÀY CỦA TÔI.

      “ HỌC THÀY KHÔNG TÀY HỌC BẠN ”
     
        Trên năm mươi tuổi. Là một người cao to, đẫy đà nếu phỏng ra thì với tấm thân vạn thặng ấy chí ít cũng phải cao trên một mét bảy, cân nặng sơ sơ cỡ 85, 90 ký không phải ngoa. Ngự thường xuyên trên khuôn mặt là cái kính gọng đồi mồi xịn, to bản có cặp tròng quầng quầng dày nơi cạnh mỏng ở giữa, màu trà xậm cho biết ngay là bị cận hơi nặng. Ông thuộc tuýp người ăn to nói lớn, rổn rảng. Tướng đi cứ rùng rùng như con gấu mẹ. Nghe đâu là trước 1975 là một nhà báo nên tầm giao lưu của ông rất rộng trong giới học thuật trong Cholon. Họa sư Lương thiếu Hàng có vẽ và đề tặng vợ chồng ông một đôi Hạc đứng trên cây tùng dưới ánh trăng già tròn vành vạnh cỡ 60cm x 120cm rất đẹp, lộng trong khung kiếng treo ngay gian tiếp khách cũng là nơi sinh hoạt cơm nước của gia đình.( Thông cảm! Ăn nhiều chứ ở nhiêu!). Mỗi lần có dịp lên nhà ông chơi, không lần nào bỏ qua cái thú nghía nó cho đã...thèm!? cũng như rất ham muốn được sở hữu nó. ( Có ai cấm không được mơ hả?). Hoạt bát, sôi nổi, vui và trực nên va phải chiều hơi nóng tính.( Chính cái sự hay bốc hỏa lên cái đầu này đã làm hại ông mất cả tủ sách lẫn tấm tranh của Lương thiếu Hàng ở vào một  thời điểm sau này. Tôi chỉ nghe thuật lại nhưng chắc chắn nó đã xảy ra như thế. Khi nào có ai khoe với bạn tấm tranh vẽ đôi Hạc có đề tặng Phùng thụ Thành thì đích thị là nó ). Thích thi ca và văn chương, nghệ thuật. Biết vẽ đôi chút theo phái cổ nhưng sau này bỏ hẳn và theo học họa sư Lý tùng Niên. Ông có tên đầy đủ là Phùng th Thành. Sống cùng vợ con ở một căn hộ trên tầng thứ ba tại chung cư Nguyễn Kim đường Vĩnh Viễn Q.5 Saigon. Tôi có được hân hạnh được làm quen qua những lần bán sách hội họa thủy mặc cho ông.

                              Phùng thụ Thành. Màu nước trên giấy súc thời bao cấp.
                                Cỡ 30cm x 42cm. Đề tặng Phạm văn Cầu. 


           Kể từ năm 1980. Tôi cùng vợ kiếm sống hàng ngày nhờ sự nhặt nhạnh kiên trì từng những cuốn sách cũ trong khu chợ sách cũ đường Đặng thị Nhu Quận I. Con đường này ngày xưa còn có tên gọi khác là “ đường  Cá hấp ” chạy song song cũng là mặt sau của khối phố liên kế hai mặt. Phía trước là  đường Trần hưng Đạo. Đông giáp đường Calmette. Tây giáp đường Ký Con.  Sạp của vợ chồng tôi mang số 64, nằm khoảng giữa chợ, ngay trước cửa hãng xích lô đạp Việt Nam, còn hãng xích lô đạp Đồng Phát thì nằm đối diện hơi chếch về phải phía bên kia đường.
         Trong con đường Đặng thị Nhu này đặc biệt có hai hãng chuyên sản xuất xích lô đạp để bán và cho thuê, những chiếc xe này là cần câu cơm, là lẽ sống dành cho tầng lớp nghèo không có nghề nghiệp gì, lấy sức lực của bản thân ra đổi lấy miếng ăn. Chỉ biết là hai cơ sở này có cơ ngơi từ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 mà không nắm rõ được ra đời từ năm nào và  cả hai đã dẹp từ lúc nào không nhớ rõ vì sau khi cả khu chợ bị khai tử (1984) mọi người tứ tán, bản thân họ lo miếng cơm manh áo chưa xong nên chả có ai quan tâm đến chuyện còn mất của hai hãng xích lô này.
          Khi cùng vợ còn được bán tại nơi đây, tôi đang thời rất khoái tranh thuỷ mặc của Trung Quốc nên chịu khó đi loanh quanh trong chợ thu gom các quyển sách giới thiệu, phê bình về hội họa Trung Quốc viết bằng các thứ tiếng Hoa. Anh. Pháp. Mặc dù ngoại ngữ nêu trên đều đặc cán cuốc, nhưng hễ thấy trong chợ ló ra cuốn nào vừa mắt, nếu đủ khả năng, vừa túi tiền là tôi om hết. Đem về xem hình  để học hỏi thêm. Đã thèm rồi đem chưng lên sạp. Nếu có khách trả được giá thì bán kiếm lời rồi lại tìm mua cuốn khác. Cứ thế mà làm…Chỉ vì cái mắt to hơn cái đầu nên tôi bỏ công ra học chữ Hán với tham vọng đọc được những chữ ở phần lạc khoản ghi trên các bức tranh. Cái phần quan trọng nhất vẫn là để biết được tên tác giả là ai để định mức giá trị mà buôn bán. Người mà tôi thường gặp để học hỏi và trao đổi là nhà nghiên cứu Đông Phương học Lý Cứ ( Khi này tôi đã gặp ông Thành nhưng chưa thân thiết lắm ). Anh sống ẩn dật bên người vợ chuyên dạy piano tại nhà trong căn biệt thự  xinh xắn thoáng mát yên tĩnh ở khu nhà vườn trên mé Tân Định, rất phù hợp với phong cách nhàn hạ của anh. Anh được bạn bè xưng tụng là nhà Trung Hoa học. Chủ yếu nghiên cứu chuyên sâu về hai lãnh vực hội họa và thư pháp. Nhờ những buổi nói chuyện với anh mà tôi hiểu một phần nào về những cái đặc thù của bộ môn nghệ thuật mà tôi đã có một thời ngây ngất. Anh khái quát cho tôi thế nào là cái tính ước lệ của hội họa Trung Hoa, tiêu biểu qua Lục pháp luận của họa gia Tạ Hách đời Nam Triều. Người đã đưa ra một lý luận đặt nền tảng cho kỹ thuật vẽ tranh thủy mặc Trung Quốc như sau:
1-     Khí vận sinh động. ( Cái thần trong tác phẩm )
2-     Cốt pháp dụng bút. ( Cách xử dụng bút, mực )
3-     Ứng vật tượng hình. ( Dựa vào sự vật mà mô tả )
4-     Tùy loại phó thái. ( Tùy theo mà ta cho sắc độ đậm nhạt hay những thuân pháp tương ứng )
5-     Kinh doanh vị trí. ( Bố cục tác phẩm )

6-  Chuyển mô di tả. ( Học hỏi những tinh hoa của tiền nhân mà ứng dụng.)

       Theo như những người am hiểu về hội họa, thì năm phép dưới đều có thể học, dụng công tập luyện sẽ thành công, nhưng riêng đệ nhất pháp là “ Khí vận sinh động ” thì không thể tập luyện mà do sự tích tụ được cái thể tính của tâm hồn mà ra ( muốn nói đến cái thần trong tác phẩm ) và “ Vĩnh tự bát pháp ”. Tám tư thế của nét bút rút ra từ năm nét chính của chữ “ Vĩnh ”.
1-       Hoành ( nét ngang )
2-       Trực    ( nét sổ thẳng )
3-       Phiệt    ( nét phẩy )
         4-    Nại       ( nét mác )
         5-   Câu      ( nét móc )
         6-   Chiết    ( nét gãy )
         7-    Khiêu   ( xốc )
         8-    Điểm    ( chấm )
( Dựa theo cuốn Tự học chữ Nho của Lưu Khôn. Trang 18. XB 1968 Saigon ).

      Ban đầu các nho gia lấy làm chuẩn mực cho thư pháp, sau biến thể qua thành một số thuân pháp cho hội họa.
      Một nét của chữ nhất đơn giản chỉ là một nét kéo ngang ( hoành ). Nhưng muốn cho nó đẹp, sống động không dễ. ( ở đây chỉ mang tính nói phiếm, nếu muốn rõ hơn xin tìm đọc cuốn sách học viết thư pháp của nhà nghiên cứu Phạm hoàng Quân sẽ rõ hơn về vấn đề này ).  

       Cũng chính vì niềm đam mê về một nền hội họa ra đời bởi một nền văn minh nằm trong nét bút   tôi đã có nhiều dịp tiếp xúc với những người cùng chung sở thích, bao gồm những nhà sưu tập cũng như các hoạ sĩ Tàu. Ông Thành là một trong số nhng người đó. Ông cũng chính là người đã dạy tôi hiểu biết cái nghề bồi tranh theo lối cuộn trục của Trung Quốc nó như thế nào. Trước khi dạy. Ông có giáo đầu với tôi một câu rất ư là truyền thống người Hoa.
      - Anh biết không? Người Hoa của chúng tôi chỉ dạy nghề cho con trai chứ không có truyền nghề cho con gái. Tôi dạy cho anh cái nghề bồi tranh này cũng giống như đã chia cho anh nửa nồi cơm của tôi rồi đó!”
      Tôi rất mang ơn ông về chuyện này. Cũng nhờ nó mà có một thời gian tôi đã thoát khỏi cái cảnh phải chìa tay xin tiền vợ để xài vặt vì thất nghiệp khi chợ sách Đặng thị Nhu bị xoá sổ ( năm 1984 ). Tôi đã dùng cái chuyện học cho biết với người ta này để bồi tranh lụa cho các hoạ sĩ bạn bè thân quen kiếm tí tiền còm cà-phê thuốc lá. Cũng chính cái chuyện biết bồi tranh này, nó đã trở thành cầu nối giúp tôi được Vinh Lò Siêu nhiệt tình cho xem rất nhiều tranh giá trị và truyền dạy cho tôi những kinh nghiệm làm thế nào để phán đoán, giám định tranh cho đúng, cho nhanh, cũng như cách đối phó, trao đổi mua bán trong cái thú chơi tranh, ứng dụng trực tiếp trên các bức xưa, cổ quí hiếm mà hắn sưu tập được mang ra làm “ trợ huấn cụ ” chỉ dạy cho tôi mở mang, nâng cao thêm tầm nhìn trong phạm trù nghệ thuật chơi tranh thủy mặc Trung Quốc.
      
      - Anh C. nè! Anh có thấy ai bỏ ra bốn cây vàng để chỉ nghề cho người khác không? Vinh Lò Siêu hỏi một câu bất ngờ làm tôi đớ người. Bèn hỏi lại.
      - Anh nói vậy nghĩa là sao! tôi không hiểu? Vinh  cầm trên tay mỗi bên hai cuộn tranh dơ ra, lắc lắc.
      - Anh không hiểu hả? Đây nè! Tui cho anh xem bốn tấm tranh của Từ bi Hồng vẽ, mỗi một tấm tui phải mua với giá một cây, giờ tui đưa cho anh coi, chỉ cho anh cách phân biệt các đặc tính cũng như sự tinh diệu trong bút pháp của Từ bi Hồng. Như vậy có phải là tui bỏ ra bốn cây vàng để chỉ nghề cho anh không?
      Lúc này tôi mới hiểu câu nói của Vinh Lò Siêu. Đây cũng là cách đáp lễ, sau khi tôi đã hướng dẫn hắn bồi tranh. Cũng có thể tạm hiểu là Vinh muốn chứng tỏ mình chơi sòng phẳng, có qua có lại, không lơị dụng bạn bè. Trước đó có lần Vinh đã thổ lộ với tôi là đã từ lâu hắn rất muốn học cái nghề bồi tranh này, không phải để kiếm sống mà mục đích chính là muốn bảo vệ những tấm tranh quí  hắn mua được. Hắn không muốn cho mọi người biết mình có gì, sợ trâu cột ghét trâu ăn xảy ra nhiều chuyện không hay, thứ nữa là đưa cho người ta bồi hồi hộp lắm, khi nào cầm về mới biết là còn. Chứ lúc đưa cho người ta bồi hậu vận có biết ra sao mà nói, rủi ro rách, mất thì ăn nói làm sao đây. Dẫu cho có được đền bù nhưng là bao nhiêu? vả lại hắn đâu cần tiền. Tôi có suy nghĩ là mất tranh đối với hắn chắc chắn là còn đau hơn hoạn. Con cá sảy luôn là con cá bự…tiếc!!! Bởi thế nên hắn rất thiết tha muốn học để tự tay làm lấy cho chắc ăn, không bị lệ thuộc vào ai cả cho đỡ lo lắng. Nhưng chả có ai dại dột gì mà  lại đi bán cái cần câu duy nhất của mình cho người mua cá để họ câu cá chùa trên cái ao của mình. Không ai dại gì mà đi dạy cái nghề đang mang đến cho mình miếng cơm manh áo. Chẳng lẽ lại đi dạy cái việc cho người đang tha thiết cần đến mình gia công cho họ, để rồi ngồi chơi nhịn đói?. Vinh nhà ta đồng ý trả công hậu hĩnh cho người nào chịu dạy nghề bồi tranh cho hắn. Mấy cây vàng cũng được miễn là hắn đạt được mục đích. Bạn có biết vào thời điểm này một cây có thể mua được một căn nhà nho nhỏ ở ngay tại các quận có số đấy. Nếu chịu khó ra xa xa các quận ven đô thì cả mẫu tây không chừng. Ấy vậy nhưng đã có rất nhiều người từ chối điều hắn đưa ra sợ phải treo nồi do không có tiền mua gạo nấu cơm. Đất đâu có cạp mà ăn được. Xoay qua làm ruộng thì không phải nghề! Làm sao sống? Ở nhà rộng dọn dẹp mệt! tối sợ ma thấy mẹ!
      
        Tao dạy cho mày thì được rồi !… mày có còn mang tranh lại cho tao bồi nữa không !? Đó là lời của lão họa sĩ phái cổ Trương Quýnh Sơ. ng vừa là họa sĩ vừa là nhà bồi tranh khá nổi từ thời còn gọi là Đề Ngạn. Ông đã phát biểu rõ ràng ràng chắc nình nịch với Vinh nhà ta khi hắn mở mồm đề nghị ông ấy dạy hắn bồi tranh. Ông họa sĩ họ Trương đã có ý không muốn ăn một lúc rồi nhịn nên đã thoại xổ toẹt một câu nghiệt ngã với Vinh nhà ta như vậy. Ăn ít mà no dai. Nghĩ vậy mà ông Quýnh Sơ từ chối lời đề nghị nhận hắn làm đệ tử. Ông Sơ quả là một người nhìn xa trông rộng. Chuyện này cũng chính Vinh kể cho tôi nghe trong những lúc vui miệng chứ làm sao biết mà hót.





     Mực nho màu trên giấy xín chỉ. Tác giả Trương Quýnh Sơ. Kích cỡ. 35.5cm x 46cm. Năm     canh Dần (1950). ( Bộ 4 tấm ).

Câu chuyện học bồi tranh của Vinh cứ ngỡ là bế tắc, nhưng cuối cùng lại gặp cơ hội. Một kết cục có hậu cho cả tôi lẫn chàng ta. Hắn đã biết cách phải làm thế nào để bồi hoàn chỉnh một bức tranh và cũng kể từ ngày ấy về sau không bao giờ còn phải bận tâm lo lắng cho chuyện mất, rách những bức tranh quí làm gì nữa ( Cứ ngỡ là như thế, thật ra thì chỉ ở những bức quí hiếm mới đích thân ra tay, còn ngoài ra hắn cũng đưa cho thiên hạ làm tuốt, thời giờ đâu mà ôm cho mệt ). Tôi có dịp học hỏi thêm được nhiều điều khá thú vị về dòng tranh thủy mặc trong những bước đầu tập tễnh chơi tranh Tàu của mình thông qua những lần hướng dẫn của Vinh. Âu cũng là duyên số cả. Ở hiền gặp lành quí vị ạ .
                                    
 (Còn tiếp).

     4 -   TIN BỢM! MẤT BÒ!!!  






2 - “ TRÂU CỘT GHÉT TRÂU ĂN ”

( Tiếp theo).

2 - “ TRÂU CỘT GHÉT TRÂU ĂN


       Trong làng môi giới, cơ hội. Người thuộc hàng sư phụ phải kể đến ông “ Tú xuất ”. Một trí thức trước 1975.
( Đích thị không phải cụ Tú Xuất trong truyện cười dân gian đâu. Để tránh hiểu nhầm giữa chuyện xưa và chuyện đời nay nên chữ  “xuất” sẽ không viết hoa để phân biệt ).
      Tú là cái tên thường gọi được chính quyền xác nhận. Được đánh máy mổ vào tờ giấy có tên khai sinh. Chữ “ xuất ” là cái danh hiệu đính theo cái tên tục, chỉ danh sự kiện đặc biệt đã xảy ra với ông. Khi ông giao tiếp với đời. Không hiểu còn có lý do nào khác hay chỉ vì một câu trong ca khúc của nhạc sĩ Trịnh công Sơn nói vu vơ “ Chúa cũng bỏ loài người…” đã tác động mạnh vào tâm thức một người phàm mang tên Thánh như ông, khiến ông nản lòng rời khỏi Chủng viện để bước chân vào cõi người ta.
( Có lẽ chữ “ xuất ” rơi vào tình huống này ).
      Chính căn bản của thời gian tu học nơi đất Thánh đã giúp ông phát huy được tính năng nhạy bén của mình nơi kiếp sống trần tục. Thông thạo hai ba ngoại ngữ. Hiểu biết rộng trong kho tàng sách cũ quí hiếm có giá trị từ khi còn mài đũng quần trong Tu Viện thông qua tàng thư của Nhà Dòng . Với số vốn tự có đó cộng thêm sự lăn lộn vào chốn văn hóa đô hội tuôn trào sau mùa Giải Phóng Miền Nam. Ông lăn xả không chừa một lãnh vực nào trong mảng văn học và nghệ thuật. Với cái mã trí thức làm lợi thế, cũng là bàn đạp thuận lợi giúp cho sự giao tiếp nhân rộng ra giữa ông với giới học thuật, nghiên cứu uyên bác khắp nơi trong cả nước. Đã thế ông lại thường xuyên va chạm với những hảo thủ sừng nanh của làng sách cũ! Chuyện này càng làm tăng thêm thành công lực, hỏa hầu kinh nghiệm nơi ông. Với bản lãnh tuyệt đích như thế! Ông dư thừa trí trá để hành tẩu trên chốn giang hồ được cho là hiểm ác, đầy cạm bẫy! Không hề chùn tay kiêng dè!
( Chỉ có chết với ông! Chứ ông chả chết với ai cả!).
          Ông rất tự hào về nghề nghiệp cũng như bản lãnh của mình, đã từng có dạo ông cho in hẳn trên danh thiếp của mình là nhà sưu tập hộ nữa đấy! Với ông! Hễ anh có tiền thì cái gì tôi cũng có thể đáp ứng và phục vụ ngài tận tình. Cũng có tin đồn không mấy gì tốt đẹp… lan truyền…
         - " Úi dào! Cái bọn “ Trâu cột ghét trâu ăn ” ấy mà!". Một giọng thật nhỏ nhẻ truyền thống ngàn năm văn vật của nhà trí thức thật dễ nghe cộng thêm cái nhún vai dáng vẻ bất kể cái sự đời và không bao giờ thiếu động tác hai tay bợ vào sợi nịt quần kéo nhẹ lên làm dáng …một sự phản kháng thật nhẹ nhàng của người lịch lãm trí thức rất Hà Nội …Muốn hiểu sao hiểu...
           Trong làng sách báo cũ, tranh cũ từ Nam ra Bắc quẹo dzô miền Trung, không ai lại có thể dám nói là không biết đến ông. Chỉ có mấy chú hai lúa dưới mới lên, bạch đinh, lính trơn, Đơ dèm cùi bắp mới nhập ngũ hoặc là lũ không màng đến chữ nghĩa là gì mới dám hở môi mà nói càn “ Không biết ” về núi Thái Sơn lù lù giữa chợ. Như thế là phạm thánh nghiêm trọng đấy.
          Vào những khi vi hành giao tiếp. Mọi người khó có ai nắm rõ được một thân thể xương nhiều thịt ít của ông ra sao, vì nó luôn ẩn trong bộ cánh thật bảnh bao, chải chuốt, áo bắn vào thùng nịt niếc cẩn thận, tay cài “ Măng Sết” hẳn hòi. Rất ít khi thấy ông mặc áo sơ mi cộc có lẽ do tránh việc phô bày sự khẳng khiu của đôi tay cán vá. Với cái đầu phủ tóc hai “ lai ” phù hợp với độ tuổi được vuốt cẩn trọng bằng “Bi dăng tin” sát sạt hai bên mang tai, hơi bồng bồng phía vầng trán, rẽ ngôi lệch hai, tám chăm chút nom thật thời trang của thập niên 50. Đã thế trang bị cho đôi mắt là cặp kính lão gọng đồi mồi xịn sang trọng, làm cho khuôn mặt xương xương thêm phần góc cạnh, càng lộ rõ vẻ trí thức đĩnh ngộ, hoắm hẳn cả ra. Cuối cùng chạm đất là đôi giày da khi nâu, khi đen bóng loáng như  váy vải Mỹ A của mấy chị Chà Dzà hay Căm pua Chia sồn sồn gì đó thường mặc mỗi khi đi phố bán vải. Mỗi khi tếch khỏi phủ đường, cậu chĩnh chọe ngự trên chiếc xe xích lô đạp túc tắc đầy khách khí phong lưu công tử thuở nào! Làm tăng thêm vẻ đạo mạo, trí tuệ nghiêm cẩn của chàng công tử miệt Phú Nhuận hồi nay. Lẩy một câu Kiều của cụ Nguyễn Du là ra ngay thôi.
                                  
                     “ Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao.”
    
      ( Mấy trăm năm trước mà cụ Nguyễn Du đã biết được con cháu mình sau này nó ăn mặc ra sao! Bái phục!!! Bái phục!!!).

      Những lần gặp nhau giữa tôi và ông Tú xuất vào giai đoạn sơ giao. Quả tình mà nói! Tôi đã dành cho ông nhiều sự hâm mộ, lẫn kính nể. Với phong cách, dáng vẻ lịch lãm, điệu bộ nghiêm túc toát ra như thế có lẽ không riêng gì tôi mà ai mới tiếp xúc đều có cảm nghĩ như vậy!

     Lê Thy. Đình và Tư tưởng Việt Nho. Sơn mài trên gỗ mít. 60cm x 90cm. 1950.      


         Nguyễn Trí Minh. Sáng sớm. Sơn dầu trên bố. 40cm x 65cm. Trước 1970.

                 Vũ Hối. Phong cảnh. Sơn dầu trên bố. Kích thước: 35cm x 45cm.(đã bán).

       Thế rồi vào một buổi sớm, lúc tôi đang cộng tác với Fahasha bán sách cũ cùng hai người bạn ở hiệu sách Lê Phan đường Phạm ngũ Lão Quận I. Ông Tú xuất đến gặp đề nghị mua lại bốn tấm tranh tôi đang có. Một tấm sơn mài của họa sĩ Lê Thy thực hiện trên gỗ mít cỡ 60cm x 90cm. Hai  tấm sơn dầu trên bố. Hoa phượng đỏ cỡ 65cm x 95cm. Buổi sáng sớm, cỡ 40cm x 65cm đều của họa sĩ Nguyễn trí Minh. Một tấm nữa của họa sĩ Vũ Hối cũng sơn dầu trên bố vẽ phong cảnh cỡ 35cm x 45cm. Cái giá ông đưa ra khá hấp dẫn. Một lượng vàng y. Thời điểm này một cây lớn lắm các cụ ạ! Nếu cầm ra ngoại thành mua đất lúc đó để đến…bây giờ thì phải biết. Nhưng chả ai dám làm chuyện này? Bản thân tôi lúc ấy cũng rét. Không một ai có đủ dũng khí mà làm chuyện như thế.  Ai có can đảm cắt hộ khẩu để ra ngoại thành? Chỉ nghe mình được đề nghị thôi đã thấy xanh sao vàng vọt rồi. Bất cứ giá nào cũng phải bám trụ ở thành phố. Ai nói gì cũng mặc, cứ như điếc bẩm sinh. Nhiều người đã nhiệt tình dặn dò nhau như thế! Được nhập khẩu thành phố Saigòn lúc này cứ như thể lên thiên đường. Hơn cả trúng số nữa cơ! Quả là một thời điểm đầy ấn tượng! Ấy vậy đó, càng sợ nó lại càng vấy vào mình, thế mới đau. Chính thị ngay tôi lại bị du vào chốn này. Ngây thơ! Hay tại mắt to hơn người?.
( Thật đấy! Nhiều người thường bảo là tôi có cặp mắt to! Đành đoạn xâm mình, tỏ dáng hiên ngang giơ cái đầu “ Bò ” đi cắt khẩu cái rột mất không quá hai tiếng đồng hồ đi về. Thót một phát về tận Đức Huệ, Long An, để huấn nhục mất hơn hai năm, chịu thương chịu khó cày xâu, cuốc bẫm học thành thạo được cái nghề “ Hết gạo chạy rông. Nhất nông nhì Sĩ ”. Tốt nghiệp thuộc loại khá! Nhưng sau rốt chả tìm đươc mảnh đất nào chịu để mình thử nghiệm tài năng, để được phát huy cái truyền thống “ Phi nông bất ổn” như cụ Lê quí Đôn đã dạy, mà rồi sau đó lận cái đuôi “Chuột” chui về thành lẩn khuất phải mất đến ba, bốn năm trời mới lại viết được cái tên mình vào sổ để hòng chứng minh với mọi người chung quanh rằng mình là con dân có tên trong hộ khẩu của một thành phố lớn nhất nhì của đất nước.....
 Ê! Ê!!! Trật đường rồi! Quay…).
      Buổi tối hôm ấy, ghi nhớ nhập tâm lời đề nghị của ông Tú xuất, tôi về đến nhà chả kịp thay quần áo triển khai ngay với vợ về lời đề nghị ngọt ngào không chút gì mà có thể bảo là khiếm nhã cho được của ông Tú xuất… Chả cần phải đắn đo suy nghĩ lấy một tí để được gọi là khôn và khéo. Vợ tôi phang liền.
      - Bán đi anh! Có một cây rồi ráng chạy mượn thêm mấy chỉ nữa phụ vào mua cái xe Honda 78. chạy cho đỡ cực, chứ  mỗi lần về Ngoại đạp cái xe đạp mệt quá! (Chỉ dám nghĩ đến chiếc 78,chứ còn Cup 81 trở lên thì chỉ là niềm mơ về tương lai!).
        Ôi!!! Những lời nói của mụ vợ trẻ nghe thật chí phải, sao dễ nghe đến như vậy kia chứ! Thật là “ Đồng thanh, đồng thủ ” và thực dụng làm sao ấy. Chính ngay trái tim đỏ trong lồng ngực tối om của tôi nó cũng mách bảo. “ Hãy mua đi cho tớ đỡ cực, mỗi lần bạn đạp xa cả chục cây số, tôi làm việc mệt lắm! đây là niềm mơ rất chính đáng mà!” Mặc dầu lúc này tôi chưa có chỗ để an cư, cũng do ỷ lại đã có chốn nương thân là ở chung với mẹ và gia đình người anh ruột. Ăn thì nhiều chứ ở bao nhiêu! Mí lỵ mới có một đứa lo gì. Khi nào có nhiều nhiều hẵng tính! Với những nghĩ suy cùng lời khuyên chí tình, chí cốt ấy của vợ, sao lại không nghe nào? Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn. Phải nghe thôi! Nhất vợ, Nhì trời!” mà.
      ( Thời buổi thật là trái khoáy! Mảnh đất con cắm dùi chưa có. Một cây vàng mua khối đất chả màng. Lại thèm mua chiếc Honda 78 còn thiếu ba, năm chỉ! Thật nực cười ).
        
      Ngày hôm sau, đúng như lời hẹn ông Tú xuất đến. Gặp nhau tại hiệu sách. Nhưng thay vì nói với ông Tú xuất một cây, tôi ướm lời đòi cây hai, theo ý lòng tham của mình là vòi thêm được chút nào hay chút nấy. Không chịu thì một cây cũng bán có mất mát chó gì mà lo? Không ngờ ông Tú xuất lại tỏ ra rất hào phóng chả quan tâm gì đến điều tôi đòi hỏi mà chỉ nói mượn mấy tấm hình chụp những tấm tranh ông muốn mua đem về cho người bạn xem, vì làm ăn chung nên phải tham khảo ý kiến người ta một chút, chứ không sau này được lãi kép, lãi đụp thì chả sao, không có lãi lại đổ thừa, kẹt cho ông lắm lắm. Người nhớn với nhau cả, đề phòng những rắc rối có thể xảy ra mai hậu, đâm ra khó ăn khó nói. Quá hợp lý! Quá nghiêm túc đi chứ! Rất ư là bài bản!
      Vì không có sẵn, tôi phải nhờ người em bà con đến chụp dùm mấy bức tranh. Đã thế lại còn bắt chụp hình màu nữa cơ chứ. Thời buổi khó khăn. Một tấm ảnh màu bằng hơn chục ký gạo, rồi lại còn đem đi rửa nữa, nên phải mất hết mấy hôm. Sau  đó mới có hình để đưa cho ông Tú xuất. Kể từ lúc đưa mấy tấm hình, trong lòng tôi mừng khấp khởi, sắp có Honda đi rồi, không còn phải còng lưng, rạc chân mà đạp nữa.
( Lại sắp. Ăn cháo đá bát. Qua cầu rút ván đây!).
         Thật sung sướng cái cuộc đời…
( Có ai thấu hiểu cho tâm trạng kẻ khó chăng?).
      “ Đồng sàng, dị mộng” cùng chỗ bán mà có hai niềm mơ! Hai người bạn cùng  bán chung ở quầy sách chỉ mong sao có doanh thu cao cao để cuối tuần được chia lương kha khá. Còn tôi chỉ thấy thời gian sao chậm chạp thế, cứ như hàng thế kỷ không bằng. Có phải chăng sự chờ đợi bao giờ cũng lê thê, lượt thượt như vậy không?
      Rồi! Đã bốn ngày qua chứ ít sao? Nhác thấy chiếc xích lô quen dáng đỗ xịch trước cửa hàng, động tác nâng đứng cái bánh sau lên, chúc cái thùng phía trước xuống, để khi khách bước ra đỡ nhọc, khỏi vấp phải càng xe.
( Lúc này mà té, có thánh cũng không đỡ được!).
      Một cung cách của những bác tài biết cách chiều khách đứng tuổi. Có lẽ ngồi trên xe lâu sợ quần áo bị xốc xếch hay là thói quen chả biết. Khi vừa bước rời khỏi xe, miệng vừa nói như dặn dò bác xích lô điều gì đó, hai tay nắm vào nịt thắt lưng kéo nhẹ cái  quần lên, xốc lại cái áo, vuốt vuốt cái ni quần cho nghiêm chỉnh, nâng nhẹ cái mục kỉnh cho ngay hàng thẳng lối rồi khoan thai bước hướng về cửa hàng. Một sự nôn nao không biết tự ở đâu kéo đến trong lòng khi thấy người lẫn bóng gầy gầy của ông Tú xuất tự đàng xa cho đến lúc đổ ập vào trong quầy. Hồi hộp khó tả!!! Rồi cũng tới thôi!...
       Điều mang đến không phải là sự hồ hởi, lâng lâng như mấy ngày qua chờ đợi mà cả một sự hụt hẫng, thất vọng não nề đánh huỵch!!!.
( Rất may không bị trúng gió.)
       Sao dzậy ?!?! Ông Tú xuất nói là bạn của ổng không muốn mua hết, chỉ muốn mua một tấm “ Hoa phượng đỏ” của Nguyễn trí Minh mà thôi! Cả một trời vần vũ xám ngoẹt đầy thất vọng. Uổng phí mấy ngày đợi mong. Tàn giấc mơ hoa! Than ôi! Đứt phim giấc mộng Cup78.
      - Thế tại sao bữa trước anh đòi mua cả bốn tấm nay còn một? Tôi hơi quê hỏi khơi. Đương nhiên là lời giải thích rất ư hợp lý cho câu hỏi của tôi. Đành cầm bốn tấm hình về cất chờ mối khác vậy, chứ biết làm sao!!! Cho mãi đến sau này, qua những lời ong đi ve lại. Tôi mới vỡ lẽ ra là ông Tú xuất đã đem những bức hình chụp bốn tấm tranh của tôi đi gạ bán cho một số  nhàn khách có máu. Thực ra ông đâu có hùn hạp gì với ai. Trước tới giờ chỉ chơi Solo một mình. Vẫn là một cách nói khéo của một người từng trải, dồi dào những kinh nghiệm để cầm mẫu hàng của người đi chào bán mà mọi người không biết mình nhảy cò cò. Tuyệt khéo!
      - Ông Tú xuất hả? Anh không biết ổng sao? Cò cụ đó! Cụ thấy anh có quyển sách hay, quí hoặc biết anh có bức tranh giá trị lớn có thể mổ được. Sẽ dẫn đến hai trường hợp xảy ra. Nếu đã có “đài” cài sẵn. Hỏi giá. “ Bèo” cụ thương lượng thuổng luôn. Chưa có “đài”. “ Cứng ”.Vẫn trả giá. “Hượm!” về lấy tiền đã. Thời gian về lấy tiền này là lúc cụ áp dụng kế “ Hoãn binh ” cũng chính là lúc cụ đi dò “đài”. Có nhiều lúc “Đài” xa, tín hiệu yếu khó bắt phải dò mất cả tuần. Đúng tần số. Điện mạnh. Phát khỏe. Quay ra hốt !
    
      “ - Chết! Chết! Quên béng đi mất! Về nhà xem lại mới biết có rồi! Thông cảm! Xin lỗi! Xin lỗi. Trí nhớ dạo này kém quá!”
      Phải hiểu. Trật “đài” rồi. Một kiểu thoát xác thật tế nhị.
      - Rất ít khi ổng mua lắm. Trừ những món ổng biết dù bán đổ đi cũng không lỗ mới mua. Còn ngoài ra tuyền làm môi giới ăn huê hồng không hà! Chắc ăn, cứng như bắp nếp nguội dzậy đó!. Một người bạn mới quen rành sáu câu về ổng đã nói với tôi như thế đấy.
      - Anh coi! Mắt tui như dzầy mà tám, chín giờ tối nó đem tranh bán cho tui! Sao coi cho rõ? Ông Y xe đạp đã có lần chỉ vào cái tròng kính cận dầy cui thở than với tôi như vậy.
      - Ông Tú xuất hả? Ổng có nhiều chiêu độc lắm đó. Mấy ông nhà Văn, nhà nghiên cứu lão lão mới quen hay chưa biết ổng, bị dính cựa ổng goài. Ổng hay lắm nha! Thấy các vị lão bối nào dễ dãi có nhiều sách hay, sách quí. Ổng lân la củng cố niềm tin sau đó hỏi mượn một loạt cả năm bảy cuốn về nghiên cứu. Ít hôm sau niềm nở đem trả lại vài cuốn và thông báo là đã nghiên cứu xong. Xin mượn tiếp. Số lượng còn tùy theo khổ chủ dễ dãi ở mức độ nào… Cứ  mượn tới rồi trả lui, năm ba bận như vậy. Ta thử làm bài toán cộng trừ. Bạn có nhớ là ổng đã mượn bao nhiêu cuốn và đã trả lại bao nhiêu cuốn không? Biết tỏng là mấy vị trí thức già trí nhớ đâu còn minh mẫn bằng mình… Thế là lâu lâu có lúc cần tham khảo các vị trí thức lão thành đó lục tung cả tủ sách của mình ra mà vẫn không thấy. Đần cả người mà cũng không biết mình để đâu, thất lạc khi nào! Năm thì mười họa có vị nào còn tỉnh chút hỏi đến ổng thì  luôn nhận được câu phản hồi là đã trả đủ từ lâu lắm rồi đâu có giữ làm gì! Tuyệt chưa?
        Đừng bắt chước nghe! Đọc cho biết để rút kinh nghiệm. Ai mượn gì nhớ ghi dzô sổ. Trả rồi nhớ gạch đi. Đặng sau này biết đường mà rờ. Nhớ đó!

(còn tiếp). 


3 - NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT VỪA LÀ THÀY CỦA TÔI.



Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

01 - TRANH HẢ !!!... CÓ GÌ MÀ MÊ DỮ DZẬY?



ĐÔI LỜI TRƯỚC KHI VÀO TRUYỆN.
Xin bày tỏ ngắn gọn!
Đây là sự kiến trải trong cuộc sống vì mưu sinh cộng thêm sự đam mê của tôi mà trở thành câu chuyện. Có thật. Không hư cấu. Không tâng bốc, che đậy. Có thể sẽ là niềm vui hay nỗi buồn khi bạn nhận thấy mình là nhân vật trong chuyện kể. Hãy thứ lỗi vì nếu không có bạn, sẽ không thành câu chuyện. Cho nên hay dở cũng đã xảy ra. Ai biểu... Chắc chắn trong quan hệ xã hội có đôi lúc mình cũng trở thành trò hề cho thiên hạ khen chê. Có sao đâu! Mình vẫn phây phây mà! Đúng hông? Làm sao tránh khỏi cãi lỗ miệng thế gian! Thôi! Thông cảm đi. Tất cả rồi cũng qua. Chỉ có câu chuyện của chúng ta là tồn tại và rất vui khi thấy bạn cười toe hay nghe tiếng chửi đổng.
         Một lần nữa. Rất mong được sự tha thứ khi thấy có hay không bóng dáng của bạn trong câu chuyện này. Tất cả cũng chỉ vì nhớ hay quên mà ra.
( T.B Đổi tên hết rồi.... Bạn mà khui ra mọi người biết ráng chịu....Tui không chịu trách nhiệm đâu nha....)
                                                                                            
 Cauminhngoc 09/2012
                                                       
  
                                               
                      Thư Pháp của Họa sư Lý tùng Niên đề tặng Phạm văn Cầu.
           Mực nho trên giấy súc thời bao cấp. Cỡ  25cm x 44cm. (1984)

                                  
 1 - BÀI HỌC ĐẦU TIÊN.
    

      - Anh mua chưa?!?!
      Vinh hỏi dồn khi tôi vừa nhắc đến tên tác giả của bức tranh.
      - Đâu có mua! Tôi cầm bức tranh ghé ông Thành đưa cho ổng xem hỏi về tác giả này có tên tuổi gì trên thị trường không. Ông cho biết  tác phẩm này do hai người cùng vẽ, tôi chỉ còn nhớ được một người tên là Hùng Bội Song và chê vẽ không đẹp, chả có tiếng tăm gì nên đem trả rồi. Tôi trả lời.
      Bức tranh được vẽ bằng mực nho màu trên giấy xín chỉ, cỡ khoảng 3Ocm x 7Ocm theo lối tả ý (phóng bút). Toàn cảnh bức tranh mô tả mấy cành đào từ dưới vút lên loáng thoáng ít lá màu xanh và điểm xuyết những đóa hoa màu đỏ trông thật đơn giản. Quả là không lấycho đẹp hay hấp dẫn dưới cặp mắt phàm tục chập chờn mới vào nghề như tôi này tí nào! Một thằng chân đất, chủ yếu là thích hoa hòe, hoa sói chứ có được mấy lăm hơi về tầm hiểu biết về tranh thủy mặc thì làm sao mà hiểu được thế nào là nét bút có uy lực như long thăng, hổ vờn của những bậc cao thủ tài danh. Đã ngu ngơ, mù tịt mọi thứ về tranh thì chớ, ông Thành lại cấy cho cái ý tưởng. Tranh vẽ theo truyền thống xưa cũ đã lỗi thời không đẹp bằng các trường phái hiện đại ”. Chắc nghĩ là lời nói không thực, khó vực được niềm tin nên ông nhiệt tình ôm một tụng sách ra giới thiệu, minh họa cho tôi tận mục sở thị bằng những cuốn cataloge triển lãm tranh của một số tân phái mà ông đã dày công sưu tầm được. Ông còn khẳng định với tôi rằng loại tranh thủy mặc đang được ưa chuộng nhất hiện nay không ai khác ngoài  phái Tân Lĩnh Nam do Họa sĩ Triệu thiếu Ngang ( 1905 – 1996 ) khởi xướng. Ông cũng nói cho tôi biết họa sĩ Lương thiếu Hàng ( 1911 – 1976 )  một người đã thành danh trong lãnh vực họa phái cổ mà khi thấy phong cách mới của Lĩnh Nam, Lương thiếu Hàng đã say mê vứt bỏ cách vẽ theo lối cũ mà cầu học cái mới tân kỳ hơn. Có thể nói rằng ông Hàng là người Hoa đầu tiên tại Việt Nam theo học Tân phái Lĩnh Nam  này rồi sau đó mở lớp quảng bá ( Khoảng 1960 mở trường dạy vẽ lấy tên Đông Phương Nghệ Uyển tại Cholon. Theo Phạm hoàng Quân ). Dưới sự hướng dẫn của ông  họa phái này đã phát triển rất mạnh trong cộng đồng người Hoa ở Cholon. Đại đa số đệ tử của ông Lương thiếu Hàng sau này đều thành danh như Lý tùng Niên, Mạc ái Hoàn, Ngô ngọc Anh, Triệu vĩ Hùng v.v..( Muốn biết rõ hơn hãy tìm cuốn triển lãm tranh của bnh viện Sùng Chính xuất bản trước năm 1975. Trong quyển sách đã giới thiệu được hầu hết nhóm này lúc đương thời ).



 Hai bức tranh của Triệu thiếu Ngang. (Nguồn trên mạng Internet)



       Ông Lý tùng Niên là đệ tử thuộc hàng thứ nhất của ông Lương, sau này cũng đã sáng lập ra Nam Tú Nghệ Uyển mở lớp truyền bá theo lối Lĩnh Nam, có phòng trưng bày tranh và giao dịch nằm cùng mé, cách cỡ vài trăm thước Tây với Nhà hàng tiệc cưới to oành rất nổi tiếng trước 1975 có tên gọi trùng với con đường Đồng Khánh tại miệt Quận 5 Cholon. Hàng ngày ông đều đều đến đây dạy vẽ và gặp gỡ mọi người. ( Địa chỉ ở số mấy tôi quên mất vì chỉ có một lần ghé thăm vào dịp cầm bộ tứ bình Tùng Cúc Trúc Mai (04 tắm) của họa sĩ Á Sĩ vẽ trên lụa Hàng Châu đề tặng Cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh và một bức thư pháp của Phùng quốc Tài đến nhờ ông cho ý kiến. Sau này ông chuyển qua chỗ khác tôi không biết vì quá bận rộn không có dịp ghé thăm ông ). Trước khi thành lập Nam Tú nghệ Uyển ông Lý sống như ẩn dật, ít tham gia sinh hoạt về hội họa trong cộng đồng xã hội. Có lẽ ông bận phải cai quản một cơ sở sản xuất đinh sắt, thép. Chỉ có những lúc rảnh rang ông ghé thăm bạn bè thân thiết để trao đổi về thư pháp, thi ca, nghệ thuật..v.v.. Chính trong giai đoạn này mà tôi đã có dịp gặp ông đôi buổi mỗi tuần tại nhà ông Thành để nghe và lãnh giáo ông về những cái hay, cái tuyệt cùng sự kỳ diệu trong những nét bút, mảng mực của những bậc tài danh trong tranh thủy mặc. Tuổi đã trên bảy mươi nhưng nhìn như mới gần sáu chục râu tóc còn đen nhay nháy. Mỗi khi có ai đó nói về tuổi tác của mình. Ông cười…nửa đùa nửa thật nói là lúc xưa ông phải khai tăng tuổi để trốn quân dịch nên bây giờ trông mới trẻ trung như vậy… Tầm vóc trung bình, có phần hơi gầy chút nhưng không sao vì đó là kích cỡ tầm tầm của người Châu Á mà ! Nói không rành tiếng Việt cho lắm, nhưng lúc nghe thì cũng không đến nỗi là không hiểu ý của ông. Tính tình hòa nhã, điềm đạm, khiêm nhường dễ gần gũi. Theo lời ông Thành tán tụng thì thày Lý còn là một người uyên bác về các bộ môn văn, thi, thư, họa. Tôi không rõ lắm về chuyện này nhưng rất ngưỡng mộ và kính mến về nhân cách cũng như về tài năng thư họa của ông.




     Lý tùng Niên. Sơn thủy. Mực nho trên giấy. Cỡ 58cm x 80cm.Vẽ trước năm 1975.

Ngô ngọc Anh. Sơn thủy. Mực nho trên giấy. Kích thước: 59cm x 119cm. Năm vẽ: 1973. Chữ ký và con triện gần mé phải dưới.

          Trở lại chuyện tranh của họa phái Tân Lĩnh Nam. Khi nào có dịp bạn được xem tranh của HS Triệu thiếu Ngang vẽ, bạn sẽ có cảm nhận ngay nó đẹp và độc đáo như thế nào liền. ( Xin nhớ cho! Phải xem chính tranh ông Ngang mới được, chứ chỉ xem tranh của các đệ tử thì…không thể ngấm hết cái tinh diệu đâu). Chính vì đã được thấy và giờ lại nghe ông Thành nói như vậy. Tôi đâm nản nên đã không cầm bức tranh của tác giả Hùng bội Song lên hỏi Vinh. Thật ra lúc mới ở nhà đi tôi cũng có ý định sẽ mang lên hỏi hắn.
      
      - Sao anh không chạy lên hỏi tôi? Vinh có vẻ khó chịu.
      - Tôi thấy nó vẽ đơn giản quá nhìn không đẹp đem lên làm phiền anh không đáng. Tôi nói.
      -  Sao lại phiền? Anh dở quá! Anh có biết là anh đã bỏ đi cơ hội sở hữu một bức tranh quí không? Trong bức này theo như lời ông Thành chỉ có hai người chứ đúng ra là nó có ba chị em ruột lận. Họ thường vẽ chung với nhau. Ba chị em nhà này có địa vị rất cao trong xã hội Trung Quốc rất am hiểu về hội họa lại thích vẽ. Tranh của nó  hiếm lắm, ít có trên thị trường, nên giá khá đắt, có bức mắc hơn cả tranh của Trương đại Thiên là chuyện bình thường. Nhìn tôi một chút như để nghỉ lấy hơi Vinh nói tiếp. ( Không biết hắn có nói quá không…)
      - Anh phải nhớ bài học này! Chơi tranh nên hỏi những người mua bán vì những người này họ có nhiều cơ hội tiếp xúc với các thể loại tranh. Đồng thời họ có điều kiện tiếp cận, va chạm thị trường, họ có tầm nhìn rộng, có kinh nghiệm cho nên họ nhạy bén dễ nắm bắt giá trị và kinh tế hơn mặc dầu tay nghề chuyên môn họ không thể nào bằng các hoạ sĩ. Còn các hoạ sĩ thì ngược lại. Họ có tài năng. Nhưng thông thường họ hay mang nặng tính chủ quan hoặc say mê một vài trường phái nào đó. Đúng sở thích! Họ ca ngợi tới tận mây xanh còn không đúng ý! Họ chê có máy xúc đào lỗ chôn cũng không kịp. Nhưng nói cho cùng, khi bước vào lãnh vực mua bán hay sưu tập tranh cũ cổ nó là cả một vấn đề không thể nói xuông. Muốn thẩm định giá trị đích thực một tác phẩm mỹ thuật?  Không đơn giản chút nào. Nó đòi hỏi người chơi phải nắm bắt được những yếu tố phức tạp về chuyên môn lẫn kinh nghiệm nghề nghiệp. Phải biết nhiều hiểu rộng. Dựa vào đó mà đánh giá, định mức xem nó ở tầm cỡ nào để mà giải quyết. Nó khắt khe như vậy đó khi anh muốn chọn nó làm lẽ sống cho mình. Tóm lại nếu thuần về chuyên môn thì đi hỏi các họa sĩ. Còn nặng về thương trường thì không ai hơn các nhà mua bán. Nếu có điều kiện thuận lợi thì hay nhất là nên tham khảo một vài người cho chắc đừng có chủ quan, hấp tấp mà hỏng việc như chuyện vừa xảy ra. Anh phải nhớ!
      Vinh nói một hơi làm tôi suy nghĩ tiếc ngốt người, thầm trách sự ngu ngốc của mình đã không chịu cầm lên hỏi hắn. Biết tìm nơi đâu anh bạn có bức tranh kia bây giờ? Chuyện xảy ra đã hơn một tuần nay rồi. Mặc dầu là khách vãng lai nhưng chủ nhân đã dễ dãi để lại cho tôi có thời gian hai ngày để thẩm định. Một bài học nhớ đời không khi nào quên. Tôi đành an ủi tại mình không có duyên với nó mà thôi...

    2 -  TRÂU CỘT GHÉT TRÂU ĂN. 

CUỐN CHẢ GIÒ.

           CUỐN CHẢ GIÒ.

    Mái tóc điểm bạc búi tó củ hành. Dáng đi lom khom chậm chạp. Nách cặp cái nón lá bạc màu, méo mó vì đã từng trải qua nhiều mùa mưa nắng. Bộ quần áo sa-teng đen bóng mới tinh còn hằn nếp gấp xem ra quá rộng so với thân thể già nua dấu trong nó. Quanh cổ, vắt vai là cái khăn rằn đặc trưng Nam Bộ có kẻ ca-rô vuông đen trắng bạc màu cũ mèm còn hoen màu nước bã trầu loang lổ. Dưới chân lê đôi dép cao su vẹt gót. Một vẻ quê mùa không thể nào dấu nổi trước sự phồn hoa đô hội chốn Saigon. Một sự chân chất, thật thà bị lạc lõng giữa chốn mua bán sầm uất đầy mưu toan nơi con đường Lê Thánh Tôn. Quận 1. Với cái đà văn minh đương có. Nhìn lại! Thật tội nghiệp cho bà cụ.
        - Cậu ơi! Cậu làm ơn cho tui hỏi thăm chút! Một giọng run run yếu ớt của tuổi già.
        - Có gì không má! Một tay quái bẻo hỏi bà cụ.
        - Dạ! Cậu biết chỗ nào mua hột xoàn chỉ dùm cho tui với. Ở dưới mới lên đường xá đông phát chóng mặt. Không biết đâu mà rờ! Giọng nói phều phào, đứt quãng mệt nhọc của bà cụ ai nghe cũng động lòng.
        - Má bán hột Xoàn hả? Má hên lắm rồi gặp được tụi con!
        - Tiệm của cậu ở đâu? Bà già thăm dò.
        - Má yên tâm đi! Tụi con mua bán đàng hoàng lắm. Má ra con đường này cứ hỏi Hai Ve là ai cũng biết. Má khỏi lo. Má dzô quán cà phe bên kia ngồi chờ con kêu người tới thử coi tốt xấu ra sao rồi tụi con mua nghe má! Giọng tên bẽo ngọt sớt. Nói chưa dứt hắn đã nắm tay bà cụ lôi sềnh sệch đi về hướng quán cà phê…
       - Má ngồi đây! Má uống gì con kêu? Hai người cùng ngồi xuống cái bàn nhỏ bên lề đường.
       - Thôi! Tui hổng có khát. Muốn án cho lẹ để còn dzìa cho kịp chuyến xe! Bà lão mệt nhọc nói.
Tên bẽo cũng chẳng phải đi đâu, kêu ai cả. Ngay sau lưng hắn đã có mấy tên mồi chờ sẵn.
       - Tám! Mày kêu anh Tư tới coi dùm má cục hột xoàn. Định giá mua cho má luôn nghe! Tên bẽo ngẩng đầu nói với một tên trong nhóm đứng sau lưng.
       - Dạ! Tên Tám quay lưng vội vã đi một mạch để kiếm ai đó....
         Một lúc sau tên Tám dẫn về một người đàn ông ăn mặc áo bắn thùng trông cũng khá lịch sự.
       - Anh Tư! Má muốn bán viên hột xoàn. Tụi em nhờ anh coi dùm xem tốt xấu ra sao. Giá cả chừng bao nhiêu nha! Tên Hai Ve phân trần.
       - Hột xoàn đâu má? Má lấy ra cho anh Tư coi đi! Nghe Hai Ve nói bà cụ với ánh mắt lo lắng nhìn mọi người chung quanh do dự.
       - Má cứ yên tâm! Con bảo đảm của má còn nguyên! Tụi con mua bán đàng hoàng mà! Có gì con chịu trách nhiệm. Con còn ngồi đây! Má lo chi! Tên Hai Ve khuyến khích. Bà cụ dáng vẻ còn do dự nhưng vẫn lận tay dưới lớp áo bà ba một lúc rồi lôi ra cái bọc vải. Bà cụ mở nút thắt lấy ra cái gói nhỏ quấn bằng khăn mui-soa. Mở lớp khăn đó đến một miếng vải trắng nhỏ được cột bằng sợi dây thun. Tháo tiếp sợi dây thun, mở miếng vải trắng lòi ra miếng nhung đen. Bà cụ từ tốn mở miếng nhung đen. Một viên kim cương cỡ bằng hạt đậu lấp lánh dưới ánh sáng mặt trời. Không đưa ngay, bà còn cẩn thận giơ lên nhìn một lúc rồi mới trao cho tên Hai Ve, mắt lom lom, đứng tròng dõi theo viên kim cương không chớp mắt. Tên Hai Ve đón viên đá quí từ tay bà cụ, rồi đưa qua cho người có tên mới được nhóm bẽo đưa đến. Tay Tư cầm viên Kim cương. Thò tay móc trong túi quần ra một cái kính lúp chuyên ngành nhỏ xíu, mở ra dí sát mắt quan sát viên đá thật cẩn thận. Khoảng năm phút sau. Hắn dừng xếp cái kính lúp lại đồng thới đưa viên kim cương cho Hai Ve.
       - Xong chưa cậu? Bà cụ nôn nóng nhìn nom nom hỏi. Cùng lúc chìa tay muốn lấy lại viên đá quí. Tay Hai Ve không đưa mà quay sang hỏi nhỏ người tên Tư. Hai bên trao đổi với nhau một lúc. Người tên Tư bỏ đi. Tay Hai Ve ngồi xuống ghế chìa viên kim cương trả cho bà cụ.
      - Viên này năm ly hai. Má bán tụi con mua!
      - Mấy cậu mua nhiêu? Tui đâu có biết nà!  Cầm viên đá quí của mình vừa xem vừa nói.
      - Tụi con mua cho má…Một ngàn rưỡi được hôn. (Tương đương 03 cây vàng thời điểm đó).
      - Có rẻ không mấy cậu? Hay chỉ tui dzô tiệm bán cho rồi. Bà lão nói.
      - Má yên tâm đi! Tui con mua bảo đảm là hơn giá trong tiệm mà! Tụi con không bị thuế má gì nên mua cao hơn chút cũng không sao. Tay Hai Ve đả thông tư tưởng bà lão.
       - Thôi được! Cậu nói dzậy tui bán cho cậu. Nhưng tui muốn lấy tiền chẵn cho dễ cất. Tiền lẻ nhiều cộm tui hổng yên tâm. Bà lão thiệt thà nói.
       - O.K con chiều theo ý má. Con đưa tiền 50 đồng không được chưa?
       Tay quái Hai Ve nói xong móc trong túi ra một xấp  tiền giấy loại 50đ được cột dây thun cẩn thận. Hắn để hết cọc tiền lên bàn rồi tháo dây thun ra đếm từ từ từng tờ một trước mặt bà lão. Khi đủ 30 tờ, hắn để riêng ra cất số còn lại vào túi xong, hắn cầm xấp tiền vừa đếm lên đếm lại thật kỹ lưỡng như sợ có tờ nào dính vào nhau, mồm thì cứ xướng liên tục.
        - Đủ ba mươi tờ rồi nghe má! Nghe Hai Ve nói và bà lão không nói gì chỉ gật đầu ra dấu đồng ý.
        - Thôi để con gói lại cho má cẩn thận không già cả rồi bị rớt mất thì khổ. Tay Hai ve tỏ vẻ tử tế, miệng nói, tay lẹ làng với lấy tờ báo bọc số tiền lại gọn lỏn xong cột dây thun bên ngoài đàng hoàng giống như cuộn chả giò đưa sang cho bà cụ. Bà cụ cầm lấy cuộn tiền làm một động tác cẩn trọng là không tin ai hết bằng tin mình, từ tốn mà tháo sợi dây thun cột ở ngoài ra rồi mở tiếp tờ giấy báo ra và chậm rãi vuốt thẳng đếm lại từng tờ tiền. Đợi cho bà lão đếm xong.
       - Đủ rồi nha má! Má đưa tiền đây con gói lại như cũ cho. Má cẩn thận coi chừng mấy thằng ăn bay nó thấy má cầm nhiều tiền nó giựt một cái là mất trắng đó má. Vừa nói vừa thò tay chụp xấp tiền trên tay bà lão, tay kia với tờ báo nhanh chóng cuốn tròn lại cột thêm sợi dây thun cẩn thận rồi đưa sang cho bà cụ. Trong khi hắn gói tiền, bà cụ dõi theo không chớp mắt vì sợ hắn tráo tiền.
        - Giờ má đưa hột soàn cho con được chưa. Tay hai Ve nhỏ nhẹ nói. Bà lão không nói năng gì tay cầm xấp tiền nhét vào túi áo xong, rồi thò lại vào túi áo bên trong móc viên hột xoàn ra để lên bàn. Tay Hai Ve chộp lấy đưa lên, xem tới xem lui thật cẩn thận bằng kính chuyên ngành.
        - Được rồi má! Tay Hai Ve vừa nói dứt lời, bỗng có một thằng không biết ở đâu chạy sộc vào hỏi.
        - Mày mua bao nhiêu dzậy Hai?
        - Ba cây được hôn? Tay Hai Ve ngập ngừng hỏi.
        - Hổng được đâu! Hôm nay tụi bán vzàng nó mới cho hay là vzàng bữa nay xuống dữ lắm, mày mua như dzậy làm sao có lời. Thôi không mua nữa trả hột xoàn lại cho bả đi! Tay mới nhào dzô thúc hối.
         Tay Hai ve không dám cãi lời tiện tay đang cầm liền đưa viên hột xoàn qua cho bà lão. Bà lão thấy vậy vội dở áo móc cục tiền đưa trả lại cho Hai Ve, đồng thời thò tay lấy lại viên hột xoàn chú mục xem có đúng viên của mình không. Xem xong biết chắc là của mình bà lão vén áo lên bỏ đại vào túi áo trong không thèm gói ghém gì. Trong lúc bà lão đang chú mục xem viên hột xoàn. Tay Hai Ve cầm xấp tiền lên thật chớp nhoáng và chuyền cho đồng bọn đứng phía sau thay bằng một gói khác y chang, cấp thời để ngay xuống mặt bàn thật êm thắm. Bà lão chả chút hay biết gì về việc tráo tiền này. Tay Hai Ve tay cầm cục tiền vừa tráo nhịp nghe cạch cạch trên mặt bàn gây sự chú ý của bà lão, ra vẻ là cục tiền nãy giờ nó vẫn nằm tại đây, quay mặt ra phía sau hỏi.
        - Ê Tư! Mày nói vzàng xuống! Mà xuống là bao nhiêu dzậy?
        - Nó xuống chừng hai ba đồng một lượng đó mày. Tay Tư trả lời.
        - Mày nói xuống như dzậy mà tao cứ tưởng xuống hai ba chục. Mày làm tao mất hứng. Nói xong hắn quay sang bà lão.
        - Thôi được rồi má! Tưởng nhiều chứ có nhiêu đó không sao đâu. Để con chịu cho. Lỡ hứa mua của má rồi giớ làm dzậy kỳ cục lắm coi sao đặng. Má đưa đây con mua cho. Vừa nói nó vừa lùa gói tiền sang phía bà lão. Bà lão nghe tay Hai Ve nói vậy mà thấy gói tiền y rang nãy giờ vẫn nằm tênh hênh trên bàn.
        - Ủa! cái cậu kia nói hổng mua mà. Bà lão thắc mắc.
        - Không sao đâu má! Chuyện này con quyết định. Má khỏi phải lo. Tay hai ve quả quyết. Thấy vậy bà lão vén áo lên móc viên hột xoàn ra đưa cho tay Hai Ve.
         - Công an tới! Một tiếng báo động từ xa nhưng nghe rõ mồn một.
         Một hiện tượng lạ xảy ra cho cả hai. Bên cầm tiền và bên cầm hột xoàn. Tất cả đều vội vã quay đi thật nhanh. Với động tác bườm nhanh của bọn quái thì ai cũng hiểu làbiến khỏi hiện trường cho nhanh, tránh trường hợp bị tó. Còn bà lão, không hiểu vì sao mà cũng có hành cử chuồn nhanh không kém, chả bù với thái độ lờ đờ chậm chạp ban đầu?
       Ai chứng kiến cảnh này cũng đều tắc lưỡi lắc đầu tội nghiệp cho bà lão bị bọn quái lừa. Chắc chắn khi về đến nhà mở gói tiền ra bà lão mới ngã ngửa. Số tiền bán viên hột xoàn chả còn lại bao nhiêu vì tiền thật bọn quái xếp chừng vài tờ trên mặt, còn ở giữa chỉ toàn là giấy.
       Khoảng chừng mươi phút sau. Bọn quái quay trở lại mặt mày sừng sộ rủa sả lẫn nhau ỏm tỏi huyên náo cả con đường. Chẳng ai biết chuyện gì mà làm cho bọn quái phát khùng như vậy. Mãi sau mới hiểu là bọn chúng đã bị bà lão tương kế tựu kế lừa bán cho viên hột xoàn giả. Măc dù số tiền mất không lớn nhưng bọn bịp tức tối vì chúng bị cho vào xiếc...

      Cái khoảng lặng của cuộc tráo tiền nằm ở chỗ khi tên đồng bọn từ ngoài chạy xộc vào cản không cho mua nữa. Một khoảng trống câu giờ để có thời gian đánh trao tiền. Không mua thì hai bên phải trả của lại cho nhau. Trong lúc con mồi chú mục xem vật của mình đem bán có đúng của mình không thì bọn quái chủ động do chuẩn bị từ trước nên đã có người bên ngoài gói sẵn cục tiền y chang đưa vào đánh tráo ngay tức thì. Khi tráo xong chúng giả vẻ nhân nghĩa mua dùm vì đã hứa. Người bán chân thật tin ngay vì nãy giờ cái tay thương lượng trực tiếp mua vẫn ngồi ngay trước mặt không rời đi đâu nửa bước. Người bán bị chúng lừa ở chỗ này. 
     Như vậy ta đã hiểu đầu đuôi câu chuyện. Bà lão biết rõ chi tiết từng công đoạn của bọn quái sẽ tráo tiền như thế nào và cứ làm như không biết gì, mà cũng chả cần quan tâm. Bả biết chắc gói tiền chỉ có vài tờ thật trên mặt còn ở giữa chỉ toàn là giấy. Chả sao tụi quái phải mất với bà ít nhất là vài ba tờ gồm hai tờ mặt trên và dưới. Bởi thế điều kiện của bà phải là tiền chẵn. Và viên hột xoàn ban đầu đưa ra bán nó là thật trăm phần trăm. Đến khi bọn quái hoãn binh, thì bà lão lấy lại xem rồi đút túi cũng là thời khắc bà lão có thuận lợi như bọn quái. Bà lão biết tụi quái chủ đích của nó là cuốn chả giò lừa tiền chứ không thể có sẵn hột xoàn để tráo viên của bà. Khi bọn quái tráo tiền xong đòi mua thì bà cũng thò tay vào túi móc ra. Thật sự là viên khác cũng cùng kích thước. Bọn quái lúc đó tối mắt cứ nghĩ bà lão bị mắc lừa, bả mới bỏ vào túi, giờ móc ra là đúng rồi. Bà lão tương kế tựu kế chơi cho bọn quái một vố. Tất cả là do sự bất ngờ mà ra. Không ai nghĩ đến chuyện qua mặt được bọn quái chuyên nghề lừa đảo này. Nhưng bà lão đã làm được chuyện đó. Thế mới biết vỏ quýt dày còn có móng tay nhọn.
        
Cauminhngoc
14/11/2013

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2013

NHỮNG CÁI BỤNG BÁNG LÒI RUỘT VÀ VẾT THƯƠNG HOẠI TỬ.

       NHỮNG CÁI BỤNG BÁNG LÒI RUỘT HAY VẾT THƯƠNG HOẠI TỬ.

      Cuộc chuẩn bị cho một ngày mới của giòng người ăn xin chuyên nghiệp đầy mánh khóe sống dựa vào lòng thương cảm hay khai thác sự kinh hãi của mọi người từ cái hình ảnh gớm ghiếc muốn nôn mửa mà phải móc hầu bao để đối tượng đi cho khuất mắt!
      Sáng nào cũng thế, vật dụng trang bị cho công việc kiếm tiền trong ngày đã được chuẩn bị sẵn thật gọn gàng nhanh chóng. Một đoạn ngắn ruột non, một ít huyết heo và một cuộn gạc y tế cùng băng keo. Những thứ này rất dễ kiếm ở chốn phồn hoa đô hội này. Chả phải đi đâu xa, quanh quẩn đây thôi. Những quầy bán thịt heo sẽ cung cấp cho họ đủ theo nhu cầu. Những tiệm bán thuốc Tây chả lấy gì làm hiếm ở đâu đó nơi các nẻo đường quanh chợ Bến Thành này. Những Dược tá này không hề bận tâm, đòi hỏi gì đến toa bác sĩ cho những món y tế quá là thông thường đó. Chỉ sợ là bọn ma cà bông quỵt không trả tiền. Chứ chìa ra là có đủ.
      Một pha làm tuồng rất bài bản, nhuần nhuyễn trông như thật có lẽ do “ Trăm hay không bằng quen tay ”. Với thời gian ngậm trễ mép phì phèo, nheo nheo con mắt tránh khói chừng hơn nửa điếu thuốc, chúng ta sẽ thấy nơi bụng người thanh niên này lòi hẳn ra một đoạn ruột non căng tấy nhiễu nhão bê bết ngấm két vào quần áo khô cứng. Nếu ở nơi ống chân thì cả một mảng cỡ bàn tay bầy nhầy đầy máu mủ của một vết thương sưng phù, tím tái trong thời kỳ hoại tử, mâm cỗ cho ruồi nhặng đầy ấn tượng, gây kinh hãi cho những người yếu tinh thần nhưng lại đầy thương cảm cho những người có tấm lòng vị tha thương cho thân phận con người đang vật vờ giãy chết! Họ ẩn mình trong bộ quần áo lam lũ bẩn thỉu lê chân đi khắp nẻo phố phường với bộ dạng của một người bịnh hoạn, thân tàn ma dại đầy đau đớn để kiếm sống. Không biết họ đã làm những gì và đi đến những đâu nhưng cứ tầm 19 giờ lại thấy họ xuất hiện ở chốn quen thuộc mỗi ngày nơi mà họ khởi đầu trước 06 giờ sáng. Cuộc làm ăn kết thúc. Sự dàn dựng, che đậy không còn cần thiết khi chung quanh ai cũng hiểu công việc của họ. Mọi thứ được gỡ bỏ trong những nhà vệ sinh công cộng. Một điểm nước tối cần thiết cho nhóm người du mục này. Sau thời gian tẩy trần trong W.C toàn thân trở nên sạch sẽ không còn nhếch nhác như lúc mới vào. Cuộc sống thật đã trở lại. Họ đã lột xác hoàn toàn để trở thành con dân bình thường. Nếu không nhìn thấy tận mắt. Nói chưa chắc ai đã tin.

Cauminhngoc
12/11/2013

UẢ!!! SAO LẠI LÀ NÙI GIẺ…?

         ỦA!!! SAO LẠI LÀ NÙI GIẺ 
    Bình thường con đường ngắn nhất từ bến xe buýt qua chợ Saigon là phải băng qua quảng trường trước chợ. Quanh chân tượng Tướng Trần Nguyên Hãn. Còn không thì sẽ phải đánh vòng qua mảnh đất mũi tàu của Ga xe lửa. Nay có hội chợ mùa Xuân. Mảnh đất mũi tàu này nay thật vui mắt. Chính thế mà những người có máu hiếu kỳ rất ít khi chịu băng qua bùng binh, muốn nhân tiện ghé qua xem nó có những trò trống gì nơi cờ xí xanh đỏ bay phất phới náo nhiệt thế! Còn với những người lâu lâu mới có dịp ghé Saigon lại càng không thể bỏ qua.
        Đã vui! Nhất loạt phải đông người! Chính vì chốn đông đúc nên bọn yêu ma quỉ quái cũng khoái trà trộn vào hưởng sái!
        Sáng nào cũng vậy! Bọn quái dẻ rách có khoảng năm, sáu đứa. Đa phần là giống cái, từ đôi mươi tới cỡ sồn sồn. Không thấy quái lão. Mập ốm, cao thấp tùy tạng người không nhất thiết giống nhau. Bọn quái chia ra từng tốp ba bốn đứa, nhưng chỉ một đứa lảng vảng trong khu chợ Xuân, trên cánh tay vắt hai cái quần soa “Suýt” đen bóng, mượt mà mới toanh chưa có một lần xỏ chân. Quanh đi quẩn lại cứ như diều lượn lờ trên trời tìm gà con. Hễ thấy chị nào đơn thân không có vẻ là lớp nghèo thành thị là sà vào gạ ngay tắp lự. Thời gian hoạt động của bọn này chiếu theo giờ hành chính. Chợ vắng bởi trong thời khắc này trời rất nắng và mọi người phải đi làm. Chợ đông vào buổi tối sau giờ cơm. Chỉ có các bà nội trợ bắt buộc vì nồi cơm hay những người miền xa về thành lác đác. Đấy mới là những đối tượng mà bọn quái chiếu cố tận tình. Nhờ vắng vẻ nên những gì xảy ra đều thấy cả...
        - Mua quần không chị Hai? Em mới may hai cái quần ăn Tết! Con bịnh kẹt quá bán đi để lấy tiền mua thuốc chữa bịnh cho cháu!
        - Chị xem kỹ đi! Quần mới may mới tinh chưa xỏ chân lần nào!
        - Vải soa “Suýt” loại mới nhất đó chị!
        - Rộng hả! Đâu có sao! Chị về nhờ thợ bóp dzô chút đỉnh là vừa ngay! Chật mới sợ! Rộng rãi như dzầy lo chi!
        - Bốn trăm hai cái! Rẻ rồi! Chị dzô chợ mua vải cỡ hơn ba trăm. Công may mỗi cái phải tốn mấy chục. Vị chi mỗi cái tốn ba trăm rưởi bốn trăm là ít! Hai cái ít nhất cũng phải bảy trăm! Nay em kẹt bán có bốn trăm là rẻ lắm rồi!
        Những mẩu đối thoại ngày nào cũng phát loa, lọt vào tai đâm nhập tâm như vậy. Khi con mồi đóng đèn…Cầm lấy từng chiếc giơ lên trời soi kiểm tra xem có lủng lỗ hay tì vết gì không. Rồi qua đường kim mũi chỉ có bị lỗi. Vải có đúng là hàng hiệu. Không một chút sờn! Đường kim mũi chỉ tuyệt! Rộng rãi ai cũng có thể mặc! Trừ những người quá gầy phải sửa chữa chút đỉnh! Món mồi nhử đương nhiên phải thơm ngon, béo ngậy hoàn chỉnh thì con  mồi mới táp chớ!
        Khi xem xong thấy tốt con mồi quay sang ngã giá… Có hai trường hợp xảy ra với con mồi! Trường hợp thứ nhất là thấy rẻ rồi cứ muốn rẻ hơn! Trả giá. Trường hợp thứ hai chấp nhận mua không trả giá móc tiền trả ngay. Thao tác tiếp của quái là ậm ừ cho qua chuyện. Tay nhuyễn nhừ cầm từng cái quần cố tình chìa ra trước mặt nai tơ rồi chậm rãi xếp gọn cuộn từng cái lại bỏ vào một cái bao nylon có màu vàng ệch như bánh tráng đường đen có nhìn chỉ loáng thoáng chả thấy rõ món gì bên trong. Tay thắt nút rất ư là cẩn thận, thật quang minh chính đại trước mặt nai tơ rõ ràng trăm phần trăm. Ở tình huống này quái luôn luôn chọn một vị trí trống trải, chung quanh không có một ai, chỉ có hai người mua và bán với nhau, thật thà như đếm, không có biểu hiện chút síu gì là gian dối giữa thanh thiên bạch nhật để tạo niềm tin tuyệt đối với con mồi. Sau khi cột xong một động tác không thể thiếu là đưa bịch quần kẹp vào nách, cho dù con mồi có muốn mua ngay hay kỳ kèo. Cả hai trường hợp đều bị cố tình trì hoãn, không đưa bịch quần ngay để có điều kiện tráo hàng.
        Khâu tráo hàng diễn biến rất nhanh và nhịp nhàng như sau. Sau khi bỏ hai cái quần vào bao nylon rồi kẹp nách xong, quái tìm cách đánh lạc hướng bằng cách nắm tay lôi kéo, kè cho con mồi đi song song với mình đi về hướng nào đó trước mặt.…mồm liến thoắng, tán hưu tán vượn làm mất cảnh giác, che khuất tầm quan sát vào bên nách có kẹp bịch nylon đựng hai cái quần…sẽ cứ tiếp tục câu chuyện kỳ kèo thêm bớt hoặc tìm cách kéo dài thời gian cho đến khi đồng bọn lẻn đến sau lưng rút cái bịch có đựng hai cái quần vải tốt. Đồng thời nhét thay vào nách quái một bịch nylon bề ngoài cũng giống y nhưng bên trong đựng đầy giẻ  vào… Con mồi nãy giờ mải mê trao đổi cứ nhìn vế phía trước không biết chuyện gì đã xảy ra bên cạnh và sau lưng…Khi đó quái ta mới giả lả nói vài lời nhân nhượng và chịu bán. Nếu con mồi tin tưởng không chút nghi ngờ móc tiền trả…thò nhận bịch nylon nhét vào giỏ…Coi như xong. Tự nhiên đâu đó có hô hoán.
       - Công An tới!
        Chắc chắn bọn quái sẽ bay nhanh hơn mấy bà nội trợ bị dính bẫy là cái chắc.
       Nếu gặp người cẩn thận trước khi trả tiền muốn mở cái bịch ra kiểm tra món hàng…Một màn kịch giận dỗi và món hàng bị giật phắt từ nơi tay con mồi kèm theo.
       - Thôi tui không bán nữa…rẻ quá! Tiếc quá! Để suy nghĩ lại… vì quái biết rằng khi khách mở ra sẽ thấy nguyên bịch giẻ rách nằm trỏng! Đó là điều đám quái không bao giờ muốn… Bể mánh. Thế là chuyện mua bán cũng coi như xong…mạnh ai nấy đi.
       Những phi vụ sau khi tan hàng thành công êm thắm. Tức tốc quái đổi màu liền bằng cách lột áo đang mặc cất. Một bộ cánh mới mặc ở bên trong lòi ra. Mấy trự quái này luôn luôn mặc hai áo…thay hình đổi dạng cấp thời, ứng dụng một chiêu trong binh pháp. “ Kim Thiền thoát xác ”. Có những người có trí nhớ tốt nhớ mặt. Sau khi biết bị hố quay lại tìm…Có hỏi cũng không dám quả quyết…người giống người mà…
     - Bà này nói cái gì dzậy! Dzô dziên! Ai biết! Tự nhiên hỏi kỳ cục!
       Chắc các bạn cũng hiểu chất giọng này nó phát ra đanh đá như thế nào! Đảo mắt nhìn chung quanh. Cô hồn, cắc đảng đứng chực sẵn bên cạnh mắt cứ ngó lom lom như sẵn sàng chiến đấu… Tức chết cũng phải ngậm bồ hòn mà ra về để bảo toàn tính mạng! Đâu ai muốn “ lỗ miệng ăn trầu cái đầu xiả thuốc ” vì cái chuyện con con.

CON NÈ CHÚ!

          - Cái cô mặc áo trắng có chấm đỏ mới đây đâu rồi?
           Một ông đứng tuổi đội nón cối, trên mặc áo bộ đội, dưới quần tây dân sự, chân dép râu, tay sách cặp Sam-son-nai. Tôi thấy anh đội ( Từ gọi vào khoảng thời điểm từ năm 1975 đến 1985 của số người Miền Nam. Thay vì gọi “ anh bộ đội ” ) hỏi ngay chóc mụ quái vừa mới thảy cho anh ta một bịch giẻ nhét vào cặp “ Sam-son-nai ” cách đây không quá nửa tiếng. Có lẽ chú bộ đội này có trí nhớ tốt nên hỏi ngay chóc. Có điều bây giờ mụ ta đang trong bộ cánh mới. Chuyện lạ! Anh đội này quay lại làm gì. Không hiểu vì sao ổng quay lại? Tôi lắng nghe.
        - Cô nào chú! Chú hỏi ai dzậy? Con đâu biết ai đâu?  Mụ Quái chối bay chối biến tỉnh queo.
        - Cổ mới đây mà! Tui mới mua của cổ hai cái quần…
        - Chú kiếm cổ có chuyện chi hông?
        - Tui muốn mua thêm hai cái nữa cho đứa em vợ…Không biết tìm cô ấy ở đâu?
        - Chú muốn mua thêm hả?
        - Ừ!
        - Con nè chú! Một câu trả lời ráo hoảnh
        - Cô nói sao? Hồi nãy cô đâu mặc này!  Áo bông đỏ kia mà!
        - Đúng rồi chú! Nóng quá con mới thay nó ra đó! Nè phải hông? Mụ ta lôi cái áo trong bịch ra chứng minh cho anh đội…
          Chắc các bạn đã hiểu chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo khỏi kể lại.... Thật tội nghiệp cho những ai cả tin và lương thiện....
         Chuyện lừa đảo này được rất nhiều người buôn bán như tôi chứng kiến từ đầu không sót một tí tị. Nhưng chả ai dám can thiệp vì sợ sáng ra sập của mình dính be bét phân và nước tiểu, mà nước ở khu vực này phải đi cũng khá xa mãi bên WC cạnh trạm xe buýt mới có. Xách về cũng xệ tay chứ không nhẹ nhàng gì.


    KẺ CẮP GẶP BÀ GIÀ.

       Tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy bà già mới bị bọn quái luộc hôm qua, nay quay lại gặp ngay nữ quái đã bán cho bà đòi mua thêm???
          Câu chuyện mua bán kỳ kèo thêm bớt diễn tiến giữa mụ quái và bà già xảy ra vẫn bình thường như mọi khi không chút gì đặc biệt. Phải tinh tế lắm mới thấy đôi chút khác biệt là sáng nay có vài chàng Kiểm Soát Quân Sự đeo súng đi lảng vảng.  Cuộc mua bán trao đổi giữa đôi bên thật xuôi chèo mát mái! Bà lão cứ ngây thơ như gái làng lên phố thị. Mọi việc tráo đổi xảy ra thật thông suốt từ A tới Z… Chẳng nhẽ hôm qua bà già không bị tráo bịch giẻ… Tôi lấy làm lạ…im lặng theo dõi.
         Đang khi mọi người chờ hiệu “ Công An tới ” là bườm. Bất chợt lão bà bà túm chặt nữ quái réo lên inh ỏi…Nữ quái cố vùng vẫy để chạy, nhưng mấy cũng không sao thoát được đôi tay khẳng khiu nhưng được dốc toàn lực ghị lại. Đúng lúc đó bốn anh chàng Kiểm Soát Quân Sự vai khoác A.K lởn vởn nãy giờ nhào tới túm tóc nữ quái. Mụ quái cứ giẫy đành đạch, mồm thì bù lu bù loa kêu trời, chả hiểu sao mình lại bị níu…
         - Nó đó! Con nhỏ này hôm qua nó bán cho tui hai cái quần, cầm dzìa nhà mở ra nó biến thành một nùi giẻ rách. Nè! Tui mới mua hai cái nữa. Nó gài bán cho tui một bịch giẻ nữa nè! Các chú thấy hông! Vừa nói bà lão nhanh tay mở bao nylon lôi bịch nùi giẻ chìa cho mọi người hiếu kỳ đang đi qua thấy việc xúm vào xem. Trong khi đó đồng bọn mụ quái nhao nhao can thiệp mong giải vây cho nữ quái. Bọn này làm như người đi đường có lòng nhân đạo thấy chuyện xảy ra góp ý với mọi người từ từ giải quyết để rình cơ hội đánh tháo cho đồng bọn. Nhưng mấy chàng KSQS này có vẻ hiểu chuyện đó nên tay vẫn túm chặt mụ quái không thả ra.
         - Hôm qua nó bán cho tui hai cái bảy trăm đồng…Lão bà phân bua.
         - Làm gì có bà già! Tui bán cho bà có bốn trăm. Bảy trăm hồi nào! Mụ quái tru tréo.
         - Bây giờ tính sao? Mấy anh chàng KSQS nhìn mặt mụ quái hỏi.
         - Đ.M cái con mẹ này! Tui bán cho mẹ bảy trăm hồi nào? Mụ quái trơ tráo sửng cồ gào lên.
         - Im! Bây giờ tính sao? Trả tiền lại cho bả hay muốn đưa lên Phường?  Một anh KSQS quát mụ quái và hỏi.
         - Em đâu có bán cho bả bảy trăm đâu? Rõ ràng em bán có bốn trăm thôi mà! Bà già này nói tầm bậy đó mấy anh! Mụ quái xuống giọng ngọt lịm.
         - Không cần biết! Trả hay không? Một trả! Hai lên Phường! Muốn cái nào? 
         - Dạ! Đ.M con mẹ già này chơi tụi em đó anh!
         - Trả hay không? Không thì về phường. Chàng KSQS bực bội gằn giọng. Coi bộ không xong mụ quái hạ giọng.
         - Em xin trả! Quay ra phía sau mụ quái nói.
         - Ê! Tám! Mày mượn dùm tao bảy trăm đưa cho mẻ…cho rồi! Đ.M nó! Bữa nay sui quá!
         Kẻ cắp gặp bà già. Quả là đáo để. Bà già mắc hỡm quay lại trả thù…Bả đi báo cho nhóm KSQS biết trước để theo dõi, đồng thời ra tay hỗ trợ. Quả thật! Tôi thấy bọn quái này chưa từng bán hai cái quần hơn bốn trăm bao giờ. Bà lão có lãi trong chuyện lật kèo! Thật hết ý.  


Cauminhngoc
12/11/2013

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

SAIGON VỚI NHỊP SỐNG MỘT THỜI ĐÃ QUA!

Hình 01. Cổ Tấn Long Châu. Trở về. Màu nước trên giấy. Mẫu tranh cổ động. 10.5cm x 18.5cm. Vẽ năm 1969. Chữ ký tác giả ở đáy góc phải.

      Đến dễ thường cỡ hai năm có thiếu...
Dốc bao sức trẻ bẻ gãy sừng trâu, lao vào tích cực cho việc học hỏi làm nông.
Bởi lý do đơn giản muốn có chân đứng trên vùng đất mới.
Lấy câu " Hết gạo chạy rông. Nhất Nông nhì Sĩ " mà an ủi.
Cứ vậy suy ra khi đói, chữ nghĩa cũng chỉ là hàng thứ.
Mảnh bằng tày gang sau mươi năm đèn sách, đem gói xôi sợ bẩn.
Việc học nông cốt nơi sức vóc, trí não đâm thừa.
Đang thời sức trẻ, có trí, có tri thì việc tay chân mấy chốc.
Khổ cái, đất không dung người,
Hoàn cảnh thật khó xử cho bản thân túng bấn.
Làm thuê lệ thuộc theo mùa.
Cái lỗ miệng hàng ngày không thể đợi.
Đã thế phiêu bạt nơi đất khách quê người,
Không chỗ cắm dùi lấy gì mà phòng cơ tích cốc.
Nhận ra kế sách dụng nông dài lâu bất ổn đâm quáng.
Bao đêm trời thanh vắng, gác tay ngang trán, dằn lưng trên chõng tre, vắt chân chữ ngũ mà giật mình thon thót.
Cứ mỗi lần như thế lại nhớ đến những câu chuyện đói năm Ất Dậu, mẹ thường kể thuở còn thơ đâm hốt.
Bản năng sinh tồn của loài linh trưởng bậc cao có chút kiến trải bèn "Tẩu vi thượng "...

     Từ lúc dấu đuôi, bu xe đò chạy bằng than đốt, bườm khỏi cánh đồng bưng ở Ấp 6. Mỹ Thạnh Đông. Long An chuyền về Saigòn chui lủi mưu sống, phải đến gần chục năm sau cái đuôi mới chịu rụng. Ôi! Sung sướng làm sao! Mỗi khi ngồi đôi mông không còn vướng víu. Xóa tan được cái nỗi thấp thỏm, phập phồng ám ảnh hằng đêm vì " mậu " khẩu. Chẳng hiểu khi trúng số độc đắc cặp, có bay bổng bằng lúc nom thấy tên mình được ghi chính thức trong sổ hộ khẩu Thành phố có giòng sông tên Saigon không nữa. Nhưng riêng tôi lúc ấy! Mọi người sao dễ thương đến thế! Kể cả người mình ghét cay ghét đắng, ấy vậy mà lúc đó trông họ cũng có cái gì đó đáng yêu!...Ôi! Sung sướng lắm lắm! Hạnh phúc lắm lắm! Có lẽ trúng số cũng đến ngần này là cùng! Giời ạ!!!
       Cái chuyện được thích danh lại trong sổ. Không đơn giản tí nào! Nó đã làm cho tôi phải mất gần hai năm đi lại đằng đẵng. Chả bù với lúc cắt! Không quá một buổi!? Nói nghe một buổi thì dài thế! Chứ thực sự từ lúc dựng chiếc xe đạp mà bước rón rén vào gặp cô thư ký nơi Phường sở tại, chìa sổ khẩu cùng tờ đơn xin cắt… Động tác cúi xuống lật lật…ghi ghi chép chép…sau rốt ịn cho cái mộc đo đỏ vào đơn đùn ra bảo lên trên!...Tới trên cũng không kém phần khẽ khàng như thế…Chỉ khác chút là sau một lúc chú mục vào đơn, ông thư ký vớ cuốn khẩu lật lật ra nom. Có lẽ lấy việc cẩn trọng làm đầu của người thư lại chân chính…cái thước kẻ nhựa mềm mềm trong veo, xinh xắn được đặt lên nhúc nhíc cho đúng vị trí rồi tay đè, tay thò cái bút Bic xanh tít dựa vào thước…. Tiếng miết của đầu bút bi gạch trên giấy kêu cái rẹt, át cả tiếng quạt trần. Nghe mà muốn tan nát cõi lòng... Chìa trả... thật xa lạ. Coi như xong…Đố các bạn với động tác này phải mất bao lâu? Có đến một buổi không?
      "Mậu" khẩu! Chắc là thất nghiệp. Có Khẩu! Ai dám tin người khác chiếu?! Vì thế! Con đường dẫn đến chốn chợ trời là gần nhất. Chỉ có nơi chốn này là dung nạp tất tật bọn cà lơ thất thểu, bảy nghề.
      Tư duy không kịp với đà phát triển!? Thế là phải chui rúc ngoài lề đường để nhặt nhạnh tìm từng miếng ăn cho bản thân. Không hiểu sao cái khu vực đường Lê Lợi. Vài rẻo đất chung quanh chợ Bến Thành nó lại có duyên với tôi đến vậy! Cái chuyện kiếm ăn, được chính quyền qui cho là bất hợp pháp này! Chắc chắn là sẽ có bao điều trăn trở trong nhịp sống! Rất hiếm khi được yên bình trong một ngày lo toan cơm áo. Mắt trước mắt sau! Đứng lên ngồi xuống! Dáo dác, tớn tác như gà mái ghẹ nhác thấy bóng diều. Hàng ngày chí ít cũng vài đợt vắt chân lên cổ mà chạy! Khi thì An ninh Giao Thông, khi Cờ đỏ làm nhiệm vụ chấn chỉnh lòng lề đường. Khi thì Thông Tin Văn Hóa giữ gìn kỷ cương, bài trừ tệ đoan Xã hội! Mọi thứ cứ như đèn kéo quân chạy vòng vòng với nhau náo nhiệt cả vùng. Đôi khi có khách ngoại bang đi ngang chứng kiến, ngẩn tò te không biết chuyện gì! Kẻ biết chuyện! Dõi theo mà cười...vui đáo để!
      Vào khoảng những năm 1978 cho đến 1982. Không biết vì nhẽ gì! Hễ cứ đến gần Tết. Chính Quyền sở tại lại cho phép bọn con dân được phép tụ tập với nhau thành một khu bán hàng trong vòng một tháng. Gọi là Hội Chợ Mùa Xuân! Vị trí cực tốt! Phía trước mé phải chợ Saigon, ngay mảnh đất mũi tàu bên hông nhà  Ga xe lửa Saigon. Ngày thường làm bãi xe buýt phụ. Nay được tạm ngưng, quây lại để phục vụ cho việc bán chợ Tết.


Hình 02 -  Bản đồ bùng binh trước chợ Bến Thành hồi đầu thế kỷ XX và ghi chú thêm các vị trí hiện có vào thập niên 80 thế kỷ XX. (Mực đỏ).

     Có lẽ tổ đãi hay thánh nhân chiếu cố kẻ khù khờ. Năm nào vợ tôi, nàng cũng bốc trúng một con số để rồi dựa vào đó mà dựng lên cái sạp con con cỡ 3, 4 mét vuông chuyên bán đồ chơi dụ khị con nít. Rẻo mũi tàu này chứa xêm xêm cỡ gần trăm sạp, chia làm nhiều dãy đâu lưng nhau. Phép có qui định. Chỉ được dựng sạp và dọn dẹp trả lại thông thoáng một tuần trước ngày khai chợ và cuốn gói sau bốn ngày từ khi đưa ông Táo chầu trời! Nơi đây không chỉ tuyền tư nhân mà còn có một số đơn vị thương nghiệp Nhà Nước cũng nhào dzô kiếm ăn. Nhưng khác chỗ diện tích to gấp chục lần chúng dân! Có thể nói đây là một khu vui chơi ngày đêm, náo nhiệt, kéo dài cả tháng duy nhất cho cả Thành Phố (có lẽ cho cả nước...?) vào thời điểm này nên bà con khắp nơi kéo nhau đổ về đông vô kể.
      Có hai lối ra vào chính cho khu chợ Tết. Một cửa quay ra hướng bến Xe buýt Bến Thành. Một cửa được trổ ngay mé đầu đường Phạm hồng Thái sát vòng xoay bùng binh Saigon. Nơi đây nhìn chếch về hướng Bắc là đường Phan châu Trinh, cửa Tây chợ Saigon. Nếu vui chân quẹo trái chừng dăm bước, coi như ngay bên cạnh chợ Tết là nhà Ga xe lửa Saigon. Chốn được xây dựng cao hơn mặt đường cả mét. Nom khá bề thế, dài sượt với nhiều cửa sắt đan song nặng chịch ken nhau cùng những họa tiết cầu kỳ có từ thời Pháp thuộc, khoác màu ô liu xuống cấp tróc lở cũ kỹ. Nhìn lên là một mái hiên dài thượt giống như mái vòm ở các sân vận động, Toàn bộ sườn mái được thết kế bằng sắt thép có trang trí những nét hoa văn uốn lượn thật xinh xắn thìa lìa ra cả dăm thước đủ sức che nắng che mưa cho hơn chục bậc tam cấp bằng đá mài nhẵn thín phía dưới. Bước ra khỏi nhà Ga, xuống hết dãy tam cấp là đặt chân lên một vỉa hè khá rộng đến cả hơn chục mét lúc nào cũng đông đúc hàng rong, khách vãng lai cùng con dân chợ trời qua lại tranh nhau mua bán í ới... là đụng con lươn mép... đường Phạm hồng Thái luôn đầy ắp xe cộ hai chiều qua lại nồng nặc mùi xăng khói...
       Kể từ ngày khai chợ, tôi bận lắm, ngoài những lúc tranh thủ chạy vào Cholon cất hàng, còn lại phải cùng vợ lăn ra dọn dẹp, bày biện đồ chơi để dụ khị con nít cùng phụ huynh đi sắm Tết từ hơn bảy giờ sáng cho đến tận hơn 22 giờ. Vãn khách thì thu xếp cho gọn lấy chỗ nghỉ ngơi, kiêm nhiệm gác gian trông nom hàng họ để vợ về nhà chăm sóc con. Công việc kiếm chác quả có vất vả nhưng bù lại mỗi mùa kiếm được đôi ba khoẻn cũng thấy âm ấm cõi lòng. Hạnh phúc cho các ngươi đã chịu khó mưu cầu miếng ăn bằng chính công sức của mình! Na - Mô - A - Di - Đà Phật... A men...!
       Cứ sau 21 giờ ! Ánh sáng văn minh nơi những cửa hàng kinh doanh quanh quất nơi trung tâm thành phố lụi dần, dìm cả khu vực bề thế sang trọng đi vào chốn tối ám hiu quạnh. Cả một trời náo nhiệt nay vụt chốc thiếu vắng ánh hào quang rực rỡ sắc màu phồn hoa đô hội, giòng người đang đan chen cuồn cuộn mọi nẻo cũng vì thế mà giảm dần, đường xá trở nên vắng vẻ, chỉ còn đó đây lác đác ánh đèn đường cao nghệu không đủ công suất chập choạng vàng ệch hắt loang lổ trên mặt đường đen kịt!
      Không khí về đêm không còn oi ả, chung quanh khu vực chợ Saigòn sau giờ Tí cứ tưởng là vắng lặng, nhưng không hề là như vậy. Trái lại. Nó bắt đầu mở lối cho một xã hội đèn đường. Nơi dành riêng cho những thành phần thích hoặc có kiếp sống đêm tràn đến chiếm ngụ từng khu vực, dàn trải ra từng nhóm người có đủ mọi ngành nghề chìm nổi khác nhau dưới sự hỗ trợ tích cực của màn đêm. 
      Nước xuôi về trũng. Các gánh hàng rong nặng trĩu tràn lan. Nào là cháo gà, bánh canh giò heo, xôi trắng gà rán..v.v.. Bất kể thứ gì miễn sao thể giúp cho những giang khách có nhu cầu ăn đêm no bụng tùy theo túi tiền là được. Toàn bộ khu vực nơi đây và các bậc tam cấp nhà Ga ban ngày do nhà nước quản lý dưới sự hiện diện của chính quyền sở tại, đại diện là các anh chàng cảnh sát mặc đồng phục đi đứng qua lại dòm ngó bảo vệ an ninh trật tự công cộng. Sau 17 giờ các vị đại diện chính quyền về nghỉ ngơi lòng lề đường tức thì bị chiếm dụng bởi những người có số má đen đổ ra cát cứ, trực tiếp kinh doanh hoặc cho thuê, biến nó trở thành vùng sinh hoạt dã chiến chồm hổm từ chạng vạng đến gần sáng phục vụ cho khách giang hồ tứ chiếng khắp nơi tụ hội tìm thú giải khuây. Nhóm sống đêm chuyên nghiệp này rất đa dạng, chia nhau từng khoảnh, từng rẻo trên lề đường tự qui. Bất khả xâm. Các chuyên gia đấm bóp thì trải manh chiếu xuống ngay vỉa hè lát gạch hay nền xi măng đã có thuế đen. Ai có nhu cầu cứ việc vật lưng xuống là sẽ mềm ngay, vui tai bởi đôi bàn tay nhuyễn nhừ của tay thợ tẩm quất, muốn lâu hay mau tùy theo số tiền xì ra. Lác đác đây đó ánh đèn dầu trứng vịt trên những chiếc bàn nho nhỏ của bạn bán trà nước đêm leo lét chập chờn như ma trơi giũa phố thị. Nơi này có lệ bán thuốc lào từng bi một cho những ai nghiện cái âm thanh sòng sọc của điếu cày với ngụm trà tươi hay chè Tàu ém khói. Nhóm này cũng cung cấp những món ăn nhanh rẻ tiền như bánh chưng, bánh giò, bánh ngọt, kẹo lạc, đôi chỗ kiêm luôn cả việc cho vay lấy lãi chí đến dịch vụ dẫn mối đen ngoài tầm soi sáng của xã hội chân chính nếu ai có nhu cầu.
       Đứng ở bên này ngó qua hướng cửa Tây chợ Saigon tấp nập không kém. Cũng với những dãy gánh hàng rong cùng xe xích lô đạp nhởn nha chờ khách. Còn có thêm " chị em ta " lởn vởn chốn này cũng khá đông. Nhưng xuất hiện sớm hơn, từ chợp tối kia. Các nàng " tiên hạ giới " tụ tập về đây. Phát nguồn từ những nơi góc khuất của bờ tường nhà Ga. Họ chải chuốt, phấn son, tô môi vẽ mắt. Làm đẹp cấp thời, trang điểm tại chỗ với những loại mỹ phẩm do quí nhà chăn dắt gái kiêm bảo kê chuyên nghiệp cung cấp cộng thêm cho thuê quần áo thời trang đủ loại. Các nàng Kiều tân thời sống vạ vật dựa vào những gánh hàng rong, lấy đó làm nơi tiếp thị. Bãi đáp đâu đó tùy người đối diện thương lượng, cũng có cách giải quyết cấp thời ít tốn kém nếu chịu chui lỗ chó vào vùng có những bụi cỏ mọc nơi mé đường ray trong sân Ga. Yên tâm đi! Không có anh nhà Đoan nào chịu chui lỗ chó để kiểm tục vào giờ giấc này! Càng không làm gì phải sợ cả! Vì mỗi khi vào Ga. Xe lửa luôn rúc còi, xa cả cây số cũng nghe thấy mà! Đó là chưa kể các nàng Kiều luôn nắm rất rõ thời gian đi về của xe lửa. Phải hiểu! Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá. Xa hơn chút là những xe bán bánh mì ở những điểm cố định góc ngã tư. Một đặc sản nổi đình đám của Saigon... Hòn Ngọc Viễn Đông....
       Tóm lại, ban đêm từ chập tối cho đến gần sáng nơi chung quanh chợ Bến Thành này không thiếu bất cứ món gì thuộc mặt trái của xã hội. Phản ảnh cuộc sống tối tăm đúng với thời gian xảy ra khi ánh đêm về làm chủ bầu trời được phụ họa bởi ánh đèn đường vàng vọt.
       Cũng tại chốn này! Khi bình minh trở lại. Một nhịp sống khác lại tiếp tục thống trị dưới ánh sáng rực rỡ của mặt trời. Cứ tưởng sẽ được sống dưới sự quang minh chính đại tốt đẹp hơn. Nhưng không! Nó chẳng khác gì. Có khi lại còn dữ dội hơn dưới sự thức tỉnh của toàn thể cộng đồng xã hội con người sau một đêm nghỉ ngơi lấy sức cùng tính toán mưu sự để đối phó với nhau.
       Ngày nào cũng thế. Sau khi mở cửa dọn hàng xong, tôi có thời gian ngồi tại quầy uống cà phe nhìn cuộc sống bắt nhịp cho một cuộc mưu sinh mới... Những chuyện xảy ra trước mặt như những đoạn phim. Có vui, có buồn... đến cười ra nước mắt, nhưng vì miếng cơm manh áo mà phải làm ngơ giả điếc....

      Cuộc sống và nhiều điều…

Cauminhngoc
11/11/2013