Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

ĐẶNG HỮU PHỔ và "QUẢNG XUYÊN THI TẬP".


Giới thiệu quyển cổ thi:

“QUẢNG XUYÊN THI TẬP”. 

Tác giả: Đặng Hữu Phổ (1854-1885).

Bản viết tay. Mực nho trên giấy dó.

Kích thước: 12.5cm x 25cm. 

Gồm 81 tờ giấy dó gấp đôi theo lối cổ.

Niên đại: Đinh Sửu (1877).

Hiện vật đang được Cauminhngoc lưu giữ.



I - MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHỤP TỪ QUYỂN "QUẢNG XUYÊN THI TẬP".

Hình 01. Tựa sách: Quảng Xuyên thi tập. Không thấy ghi tên tác giả và lời giới thiệu tập thơ.


Hình 02. Trang cuối của Quyển Ngũ. Quảng Xuyên thi tập. Không thấy ghi niên đại và tên tác giả.


Hình 03. Trang đầu của Quyển Lục. Quảng Xuyên thi tập. Có ghi niên đại Đinh Sửu (1877) và tên tác giả Đặng Hữu Phổ.


Hình 04. Trang đầu của Quyển Củu. Quảng Xuyên thi tập. Có ghi niên đại Đinh Sửu (1877) cùng tên tác giả Đặng Hữu Phổ. Và 2 đồ hình của cuối Quyển Bát.

Hình 05. Một số đồ hình có lộng chữ bên trong, trích trong Quyển Cửu.



II - MỘT SỐ BÀI THƠ Ở ĐẦU SÁCH. 

1 - Bài thơ mở đầu (Không có tiêu đề riêng)

Phiên âm:

紅塵一騎故園來,
數顆香膚手自開。
知子詩脾令正渴,
分嘗聊當助清醖。

Hồng trần nhất kỵ cố viên lai,
Số khỏa hương phu thủ tự khai.
Tri tử thi tì linh chính khát,
Phân thưởng liêu đương trợ thanh uẩn.

Dịch nghĩa:

Một cỗ ngựa vượt bụi hồng trần từ vườn xưa tới,
Mấy quả [vải/trái cây] vỏ thơm tự tay bóc ra.
Biết tì vị thơ của anh phương này đang khát,
Chia nhau nếm chút ít gọi là để trợ giúp cho bầu rượu thanh tao.


2. Lời đề từ trước bài thơ tiếp theo: 

月夜天姥寺登高呈一二詩友  (Nguyệt dạ Thiên Mụ tự đăng cao trình nhất nhị thi hữu)

Dịch nghĩa: Đêm trăng lên cao ở chùa Thiên Mụ, kính dâng một hai bạn thơ.


3. Bài thơ thứ hai (Dưới lời đề từ)

Phiên âm:

準擬聞鐘訪釋流,
登臨佳客得清遊。
石關直躡雲生足,
銀漢橫觀月到頭。
萬疊山光杯底合,
千重烟色筆端收。
唫壺擊碎歌聲遠,
仗火松風夜氣秋。

Chuẩn nghĩ văn chung phỏng thích lưu,
Đăng lâm giai khách đắc thanh du.
Thạch quan trực niếp vân sinh túc,
Ngân hán hoành quan nguyệt đáo đầu.
Vạn điệp sơn quang bôi để hợp,
Thiên trùng yên sắc bút đoan thu.
Ngâm hồ kích toái ca thanh viễn,
Trượng hỏa tùng phong dạ khí thu.


Dịch nghĩa:

Định sẵn nghe tiếng chuông để đi thăm bậc tăng ni,
Khách quý bước lên nơi cao có được chuyến dạo chơi thanh nhã.
Cửa đá thẳng bước chân như giẫm lên mây sinh ra,
Dải Ngân Hà nằm ngang, nhìn lên vầng trăng đã ở ngay trên đầu.
Muôn lớp ánh sáng của núi non thu hợp lại nơi đáy chén,
Ngàn trùng sắc khói sương được thu gọn lại nơi đầu ngọn bút.
Chiếc hũ ngâm thơ gõ vỡ, tiếng ca bay xa,
Nương ánh đuốc lửa dạo giữa gió thông, khí đêm đã nhuốm vẻ thu.


4. Bài thơ thứ ba

Tiêu đề: 登天姥寺口占 (Đăng Thiên Mụ tự khẩu chiếm) - 

Dịch nghĩa: Lên chùa Thiên Mụ, tình cờ ứng tác làm thơ.

Phiên âm:

久愛名山景趣繁,
參禪月夜到空門。
蓮花世界超塵表,
歷歷星辰祇掌捫。

Cửu ái danh sơn cảnh thú phồn,
Tham thiền nguyệt dạ đáo không môn.
Liên hoa thế giới siêu trần biểu,
Lịch lịch tinh thần chỉ chưởng môn.

Dịch nghĩa:

Vốn từ lâu đã yêu thích cảnh trí phong phú của ngọn núi danh tiếng này,
Vào đêm trăng tìm đến cửa thiền (cửa Không) để học đạo tham thiền.
Thế giới hoa sen này vượt hẳn lên trên cõi trần tục,
Các vì sao hiện ra rõ mồn một, tưởng như có thể dùng lòng bàn tay để sờ, nắm lấy được.


5. Lời dẫn cho phần tiếp theo (Ở góc trái bên dưới)

Phiên âm: 月夜天姥寺登高同廕生平卲、蔡伯琪、匋平陵、阮朢、歐聯白三首。 

  (Nguyệt dạ Thiên Mụ tự đăng cao đồng ấm sinh Bình Thạnh, Thái Bác Kỳ, Đào Bình Lăng, Nguyễn Vọng, Âu Liên Bạch tam thủ.)

Dịch nghĩa: Ba bài thơ lúc đêm trăng lên cao ở chùa Thiên Mụ, cùng làm với các ấm sinh [họ tên]: Bình Thạnh, Thái Bác Kỳ, Đào Bình Lăng, Nguyễn Vọng, Âu Liên Bạch.

  (Bản âm và dịch của Google AI)


    III - XÉT HIỆN VẬT.

       Ngay từ những trang đầu tập cổ thi này không thấy ghi tên tác giả cũng như đề từ cùng niên đại như thường thấy ở các loại sách Hán-Nôm cổ. Tổng thể tập thơ có 81 tờ giấy dó gấp đôi. Toàn bộ chữ viết được thể hiện trên hai mặt giấy theo lối chữ Khải rất rõ ràng và đẹp. Thứ tự từ đầu đến cuối được sắp xếp làm 5 phần như sau:

      Phần 1 – Từ tờ số 01 đến tờ 16. (16 tờ đôi). Đến mãi dòng cuối cùng ở tờ số 16 mới có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Ngũ” và không thấy có bổ chú thêm gì khác. Như vậy từ tờ số 1 cho đến tờ 16 thuộc quyển Ngũ. Đây cũng được xem là phần đầu sách ghi chép các bài thơ viết theo các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Trong số đó có chép một số câu của các thi hữu (có phụ chú tên họ từng người) đã xướng họa cùng ông Đặng Hữu Phổ.

      Phần 2 – Từ tờ số 17 đến tờ 32. (16 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải tờ số 17. Ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Lục”. Đồng thời có ghi bổ sung thêm niên đại Đinh Sửu (1877). Dòng thứ nhì có ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ. Nội dung phần thứ này cũng gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú.

      Phần 3 – Từ tờ số 33 đến tờ 50. (18 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải tờ số 33. Có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Thất” và niên đại Đinh Sửu (1877).  Dòng thứ nhì ghi tên Đặng Hữu Phổ. Phần thứ ba này cũng gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Nhưng đặc biệt ở các tờ mang số 42 đến tờ 46, 49b và tờ số 50 là những đồ hình phức tạp có lộng chữ bên trong.

      Phần 4 – Từ tờ số 51 đến tờ 67. (17 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải tờ 51, có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Bát” và niên đại Đinh Sửu (1877). Dòng thứ nhì ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ. Phần thứ tư này cũng bao gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Đặc biệt từ tờ 61b đến tờ 65 và 67b là những đồ hình có lộng chữ bên trong.

     Phần 5 – Từ tờ số 68 đến tờ 81. (14 tờ đôi).  Dòng đầu tiên bên phải tờ 51, có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Cửu” và niên đại Đinh Sửu (1877). Dòng thứ nhì ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ. Phần cuối này cũng bao gồm một số bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Đặc biệt từ tờ 77b đến tờ 81 là những đồ hình có lộng chữ bên trong.


        LƯU Ý:

·        Ở “Phần 1” mãi đến dòng cuối cùng mới thấy ghi tên và ký số tập thơ: “Quảng Xuyên thi tập. Quyển 5”. Số còn lại từ “Phần 2” cho đến “Phần 5” đều có có ghi thêm năm Đinh Sửu (1877) và tên tác giả Đặng Hữu Phổ. Như vậy! tập thơ này hầu hết được viết vào năm Đinh Sửu (1877), khi đó ông Đặng Hữu Phổ mới 23 tuổi.

·        Một điều rất thú vị là vào ngay năm sau là năm Mậu Dần (1878), ông đã thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần khi mới 24 tuổi, sau đó ông bước vào con đường quan lộ và được bổ nhiệm giữ chức Thị độc Học sĩ Hàn lâm viện.

·        Dựa vào dòng cuối tờ 16 có ghi “Quảng Xuyên thi tập, quyển Ngũ”. Như vậy trước quyển Ngũ còn 4 quyển nữa (Nhất; Nhị; Tam và Tứ). Phải chăng tập thơ “Quảng Xuyên thi tập” của ngài Đặng Hữu Phổ này có hai Tập? Và hiện vật này là Tập thứ Nhì! Nếu như vậy Tập thứ Nhất này có hiện hữu hay không? nội dung của Tập thứ Nhất chứa đựng những gì? Nếu có thì bị thất lạc khi nào?

·        Cũng chưa rõ đây có phải là thủ bút của ngài Đặng Hữu Phổ không hay do ai đó chép lại... Nếu tập cổ thi "Quảng Xuyên Thi Tập" này được cho là chép lại thì người chép lại đã dựa vào nguồn ở đâu và đã thực hiện vào thời điểm nào? Một nghi vấn cần được giải mã để trả cho hiện vật về đúng vị trí của nó!?

·        Theo chủ quan của người viết thì rất có thể đây là thủ bút của ông Đặng Hữu Phổ vì theo cách trình bày cực kỳ công phu và tỷ mỉ, không dấu vết tẩy xóa hay bại bút trong suốt quá trình viết trên 160 trang giấy, điều này chứng tỏ người thể hiện phải là người có ý chí rất vững vàng, giỏi về thư pháp cũng như độ uyên bác về Nho học mới thể hiện được như vậy! Và chuyện này chỉ là tác giả mới có dày công chăm chút đến như vậy mà thôi!

·        Cho dù có đúng là thủ bút của ngài Đặng Hữu Phổ hay không thì đây vẫn là quyển cổ thư (1877) viết tay thuộc dạng cực kỳ quý hiếm và độc lạ tại Việt Nam. Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này không chỉ nằm ở giá trị văn chương chữ Nho, mà nằm ở nghệ thuật tổ chức bố cục thư pháp và thể loại Thơ Vòng (Tuyền cơ thi / Vũ khúc thi) – một đỉnh cao của lối chơi chiết tự và sắp đặt văn tự độc đáo của người xưa, đòi hỏi bộ óc cực kỳ uyên bác của người sáng tác lẫn cách thể hiện biểu đồ phức tạp trên mặt giấy và dựa vào niên đại 1877 ghi trong sách thì tác giả Đặng Hữu Phổ sáng tác tập thơ “Quảng Xuyên thi tập” này khi ông mới 23 tuổi.


IV - TIỂU SỬ TÁC GIẢ THEO NGUỒN MỞ:

  • Tác giả: Chính là Đặng Hữu Phổ (1854 – 1885), nhân vật lịch sử thời nhà Nguyễn tham gia phong trào Cần Vương.
  • Thân thế: Ông sinh ra trong một gia đình đại trí thức đại quý tộc. Cha ông là Phò mã Đặng Huy Cát, mẹ ông là hoàng nữ Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (nhà thơ nữ nổi tiếng thời Nguyễn, con gái vua Minh Mạng). Sống trong môi trường văn chương từ nhỏ nên Đặng Hữu Phổ có tài làm thơ rất hay từ sớm. Tập thơ Quảng Xuyên thi tập là một trong những di sản văn học Hán Nôm quý giá còn lưu lại của ông trước khi ông hy sinh anh dũng vì đại cuộc chống Pháp.

 

A - Google AI:

 Đặng Hữu Phổ (1854–1885) là một vị quan văn võ song toàn, liệt sĩ tiêu biểu của phong trào Cần Vương chống Pháp thời nhà Nguyễn.

Thân thế

Sự nghiệp và tinh thần kháng chiến

  • Tham gia phái chủ chiến: Khi phong trào Cần Vương bùng nổ dưới sự lãnh đạo của Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi, Đặng Hữu Phổ cùng cha hăng hái tham gia phái chủ chiến. Ông được giao trọng trách làm Hiệu úy, trực tiếp chiêu mộ và chỉ huy đội quân nghĩa dũng mang tên Đoàn Kiệt để chuẩn bị cơ sở kháng chiến.
  • Trận đánh huyện nha Quảng Điền: Đêm mùng 4 rạng sáng ngày 05/07/1885, trong lúc Tôn Thất Thuyết tập kích đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ Pháp ở kinh thành Huế, cha con Đặng Hữu Phổ đã lãnh đạo đội Đoàn Kiệt bất ngờ tấn công vào huyện nha Quảng Điền (đóng tại Hạ Lang).
  • Hi sinh vì nước: Cuộc tấn công không thành do thế giặc mạnh và kinh đô thất thủ. Hai cha con ông bị bắt giam. Dù bị quân Pháp tra tấn dã man và triều đình tay sai Đồng Khánh dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, tra hỏi, ông vẫn giữ vững khí tiết trung kiên, nhận hết trách nhiệm về mình và kiên quyết không khuất phục.
  • Ông bị tòa án của phái thân Pháp tại nhà Thương Bạc kết án tử hình và bị xử tử vào ngày 29/08/1885 (20 tháng 7 năm Ất Dậu) tại bến đò Quai Vạc (làng Bác Vọng, Quảng Điền), hiên ngang để lại thơ tuyệt mệnh trước khi lẫm liệt hy sinh ở tuổi 31.
  • Khu vực lăng mộ, nhà thờ và miếu thờ của ông (Miếu Thị Độc) tại Quảng Điền, Thừa Thiên Huế đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, là nơi ghi tạc tấm gương trung hiếu, vì nước quên thân của ông

 

B - Thông tin từ (Wikipedia)

  • Sau khi bị hành hình, thi thể Đặng Hữu Phổ được dân làng an táng ở tại Cồn Căng (cạnh mộ mẹ ông), thuộc làng Bác Vọng (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền). Mộ ông hình tròn, cao khoảng 0,5m, hình thức kết cấu đơn giản, có vòng thành nhỏ bao bọc. Sau đó, cảm phục trước khí tiết của ông, dân làng còn lập miếu thờ ngay tại nơi ông mất (Bến đò Quai Vạc) gọi là "Thị độc miếu" (miếu của quan Thị độc) cách lăng mộ khoảng 1km về phía tây, và hằng năm đều có tổ chức lễ cúng tế. Khu mộ và miếu thờ Đặng Hữu Phổ đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng "di tích cấp Quốc gia" theo Quyết định số: 52/2001/QĐ/BVHTT, ký ngày 28 tháng 12 năm 2001.
  • Ghi nhận công lao và khí tiết của ông, ở quận 2, Tp. Hồ chí Minh, hiện có con đường mang tên Đặng Hữu Phổ.
  • Vợ ông là Tôn Nữ Thị Hiệp, người hoàng tộc.

Đặng Hữu Phổ sinh ngày 29 tháng 9 năm Giáp Dần, dưới triều Tự Đức (tức ngày 19 tháng 01 năm 1854) tại làng Bác Vọng (nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên-Huế).

       Ông là con trai trưởng trong 4 người con của Phò mã Đặng Huy Cát và Công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (tức nữ sĩ Huệ Phố).

Năm 24 tuổi, Đặng Hữu Phổ thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần (1878) làm quan đến chức Thị độc Nội các.

      Khi phái chủ chiến ở Huế tích cự chuẩn bị lực lượng và cơ sở vật chất đế quyết chiến với thực dân Pháp, cha con Đặng Hữu Phổ được đại thần Tôn Thất Thuyết giao cho nhiệm vụ chiêu mộ nghĩa sĩ ở ngoại thành Huế lập đội quân Đoàn kiệt, đồng thời đến Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) lập hậu cứ, để có chỗ kháng chiến lâu dài.

      Đêm 4, sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, khi Tôn Thất Thuyết đang chỉ huy cuộc tập kích quân Pháp ở Huế, thì cha con ông cũng lãnh đạo đội Đoàn kiệt đánh vào huyện nha Quảng Điền (Huế). Cuộc đánh chiếm thất bại, hai cha con ông đều bị bắt.

      Sau đó, triều đình Đồng Khánh và Thực dân Pháp cố dụ hàng cha con ông để lung lạc sĩ phu và nhân dân, nhưng không được. Cuối cùng, họ đem cha con ông ra xử: Đặng Huy Cát bị án trảm giam hậu, còn Đặng Hữu Phổ bị án xử tử. Ngoài ra, họ còn sai người đến đốt nhà của cha con ông, khiến kho sách "Đặng gia tàng thư" bị cháy rụi.

      Ngày 20 tháng 7 năm Ất Dậu (29 tháng 8 năm 1885) Đặng Hữu Phổ bị thọ hình tại bến đò Quai Vạc (còn gọi là đò Ba Bến) ngay trên quê hương ông. Năm ấy ông vừa tròn 31 tuổi.

Cauminhngoc
02/10/2026

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI THƠ "SƠN HÀNH" CỦA ĐỖ MỤC.

 PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI THƠ "SƠN HÀNH" CỦA ĐỖ MUC. 

LTS.
        Thuở mới tái hồi cuộc sống, bản thân vốn dĩ rất mù mờ về Hán Nôm nhưng lại rất thích ngắm nghía những mạch bút cực kỳ bay bổng lôi cuốn của dạng tự và cách dụng mưc trong những bức thư pháp và tranh thủy mặc. Do yêu thích thư họa Trung Quốc nên đã từng bỏ thời gian đi tìm thày học hỏi nhưng chẳng nên cơm cháo gì vì sức lực có hạn đồng thời bị cuộc sống nhồi cho lên bờ xuống ao mệt bở hơi tai hoa cả mắt mất cả phương hướng, may sao gặp người bạn người Hoa chân tình khuyên bảo hãy về ao nhà mà tắm cho phẻ chứ ao người vừa rộng vừa đông làm sao chen được cái chân gỗ mục vào. Từ lời khuyên chí tình chí lý đó đã thay đổi hoàn toàn quan điểm cố chấp ban đầu và đã quay về "Ta về ta tắm ao ta". Dẫu vậy vẫn không thể gột bỏ hết được cái sở thích cho nên không gặp thì thôi chứ mà chạm mặt ưng mắt vừa túi là hốt không tha. Số trời cũng thương nên gặp phải một nửa không thể thiếu trong cuộc đời có máu thích chiều lại thường ngó lơ nên mới có dịp múa gậy vường hoang...

    Tôi rất thích bức thư pháp "Sơn hành" của Phùng Hoán Sinh này, bởi nó phô diễn một lối viết rất lạ và khá độc đáo, bức thư pháp mang một phong cách mà tôi cho là có đôi chút gần gũi với lối viết cổ xưa là "Khoa đẩu văn" (1). Bức thư pháp này tôi đã lưu giữ từ lâu, nay rảnh rỗi muốn đào sâu thêm nên đã đưa lên Google AI để hỏi và được Google AI phân tích và lý giải căn kẽ, chuyện này đã giúp cho tôi học hỏi được thêm rất nhiều về cách hành cử của thư pháp Trung Quốc. Tóm lại ăn quẩn cối xay vớ được gì hay nấy, chứ bây giờ thị trường thư họa Trung Quốc phát triển chóng mặt chỉ nhìn thôi cũng hoa mắt rồi sức đâu mà chạy theo cho nổi...

  

Hình 01- Phùng Hoán Sinh. (Sn:1927?). "Sơn Hành" của Đỗ Mục. Kt: 49cm x 95cm. Viết năm; 1997.


Ảnh chụp cận cảnh để xem được rõ những nét bút và cách dụng mặc.



                                                                       Hình 01bis.



     I - PHẦN CHÚ GIẢI CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU HÁN-NÔM LÊ ANH MINH.

a - Phiên bản Hán tự và âm bài "Sơn hành".

遠上寒山石徑斜,Viễn thượng hàn sơn thạch kính tà

白雲生處有人家。Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia.

停車坐愛楓林晚,Đình xa tọa ái phong lâm vãn,

霜葉紅於二月花。Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa.


Lạc khoản:  杜牧诗一首, 丁丑年夏,  煥生 書. 

Đỗ Mục thi nhất thủ. Đinh Sửu niên Hạ, Hoán Sinh thư.


b - Nội dung của những con dấu ở đầu và cuối bức thư pháp.


 Hình 02 - Dấu triện "Long uyên mặc hải" (龍 淵 墨 海) 


Hình 03 - Dấu triện trên: Phùng Hoán Sinh (馮焕生) và dưới: Thạch Am (石菴)




II - TIỂU SỬ PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI PHÂN TÍCH CỦA GOOGLE AI. 


A - TÓM TẮT TIỂU SỬ.

       Phùng Hoán Sinh (馮焕生), tự là Thạch Am (石菴), hiệu là Ngưu Ông (牛翁), chủ nhân của Mai Trúc Đường (梅竹堂主), người Phủ Thuận (抚順人). Hiện nay 68 tuổi, tốt nghiệp đại học, là giáo viên trung học cao cấp (2).  

      Ông là thành viên của Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Thư pháp Trung Quốc, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Thư pháp Thế giới, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Thư pháp Thanh thiếu niên Trung Quốc, và được mời làm họa sĩ kiêm thư pháp gia đặc ước của Thư Họa Gia Nghệ Thuật Báo, đồng thời là phóng viên thư họa.

     Thời gian đầu, ông học thư pháp theo lối của Liễu Công Quyền và Nhan Chân Khanh, sau đó học hỏi thêm từ Chử Toại Lương và Triệu Mạnh Phủ cùng các danh gia khác; ông cũng thông thạo cả bút pháp của Mễ Phế. Phong cách của ông thấm nhuần từ văn bia Bắc Ngụy, đồng thời tiếp thu thế mạnh của nhiều nhà, học hỏi từ bút pháp của Chung Diêu, và tham khảo sâu sắc ý niệm, tượng hình của "Nhị Vương" (Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi). Từ thuở nhỏ cho đến nay, ông đã cống hiến và rèn luyện trong lĩnh vực thư pháp hơn 60 năm.

      Các tác phẩm thư pháp của ông đã được triển lãm nhiều lần cả trong và ngoài nước, từng đoạt nhiều giải thưởng. Qua sự đánh giá của các chuyên gia, tác phẩm của ông đã được tuyển chọn vào "Tuyển tập tác phẩm của các danh gia thư họa đương đại", đồng thời ông được phong tặng danh hiệu danh dự "Nghệ sĩ thư pháp nổi tiếng Trung-Ngoại" và chứng nhận tư cách "Nghệ sĩ thư pháp đương đại". Các tác phẩm của ông từ sớm đã được biên soạn vào cuốn "Đại từ điển thư họa khắc ấn thế giới".

     Nhiều tác phẩm thuộc các thể chữ Chân (Khải), Hành, Thảo, Lệ, Triện của ông đã được các gia đình và người yêu thích thư pháp tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Philippines, Canada, Úc, Anh, Mỹ cùng nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác sưu tầm.


B - PHÂN TÍCH SÂU VỀ BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT.

     Tác phẩm được viết theo thể Thảo thư (cụ thể là thiên về Hành Thảo và Kim Thảo), mang đậm dấu ấn phong cách phóng khoáng nhưng vô cùng chuẩn mực của tác giả Phùng Hoán Sinh.

  1. Khí vận liên miên (Sự liên kết dòng chảy):
    • Trục chữ không đứng yên một chỗ mà có sự uốn lượn, dịch chuyển sang trái, sang phải một cách uyển chuyển.
    • Các nét nối (gọi là du ti - nét tơ bay) xuất hiện liên tục. Có những cụm chữ được viết liền mạch bằng một nét bút duy nhất không nhấc lên (như cụm "Hàn sơn thạch" hay "Hồng ư nhị"). Điều này tạo cảm giác bài thơ như một dòng thác nước chảy xiết, tràn đầy sinh khí.
  2. Biến hóa về kết cấu và kích thước (Độ tương phản):
    • Tác giả điều phối độ to nhỏ của chữ vô cùng điêu luyện. Các chữ mang tính chất "động" như Tà (斜), Xứ (处), Ái (爱), Hồng (红) được phóng to, chiếm không gian lớn để làm điểm nhấn.
    • Ngược lại, các chữ như Sinh (生), Hữu (有), Nhân (人) lại được viết thu nhỏ, thanh mảnh, tạo khoảng trống tinh tế (gọi là kế bạch đương hắc - giữ khoảng trắng như giữ nét mực).
  3. Kỹ thuật điều bút (Nhấn và Lướt):
    • Nét bút có sự tương phản mạnh mẽ giữa độ đậm (mập) và độ thanh (ốm). Những nét xổ dọc của chữ Tà (斜) hay chữ Hạ (下 / ở đây là chữ Vãn 晚) được kéo rất dài và mạnh mẽ, thể hiện lực cổ tay vững chãi, đúng như tiểu sử của ông là có nghiên cứu sâu về văn bia Bắc Ngụy và bút pháp của Nhị Vương.

C - ĐỐI CHIẾU VỊ TRÍ TỪNG CHỮ THẢO TRONG HÌNH.

      Bức thư pháp được trình bày theo lối truyền thống: Đọc từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Bài thơ gồm 28 chữ, được chia làm 3 hàng chính lớn và 1 hàng khoản thức (chữ nhỏ) ở rìa trái.

Hàng 1 - (Bên phải cùng - Câu thơ thứ nhất)

  • 远 (Viễn): Chữ đầu tiên trên cùng, nét uốn lượn mảnh dẻ, lược bớt các chi tiết của bộ sước.
  • 上 (Thượng): Viết dính liền ngay dưới chữ Viễn bằng một nét thắt nhanh.
  • 寒 (Hàn): Nét đậm ở phần đầu chữ, phần dưới biến thành các nét vòng móc liên tục.
  • 山 (Sơn): Ba nét đứng của chữ Sơn được thu gọn thành một đường sóng lượn vô cùng ước lệ.
  • 石 (Thạch): Thể hiện rõ hình khối, góc cạnh lượn tròn nối thẳng sang chữ tiếp theo.
  • 径 (Kính): Bộ xích (bên trái) viết thành một nét dọc lượn, phần bên phải thu gọn tối đa.
  • 斜 (Tà): Chữ cuối cùng của hàng một. Nét xổ dọc ở cuối được kéo rất dài và đậm xuống tận đáy, tạo thế đứng vững chãi cho toàn hàng.

Hàng 2 - (Ở giữa - Câu thơ thứ hai và đầu câu ba)

  • 白 (Bạch): Chữ trên cùng hàng giữa, nét mập, tròn trịa rõ ràng.
  • 云 (Vân): Các nét ngang biến thành đường lượn thắt nút mềm mại như làn mây bay.
  • 生 (Sinh): Viết tương đối nhỏ, nét mảnh lướt nhanh.
  • 处 (Xứ): Được phóng to ra, nét chữ uốn lượn uốn khúc bao trọn khoảng trống phía dưới.
  • 有 (Hữu): Nét gạch ngang dài chạy chéo, phần dưới tinh giản.
  • 人 (Nhân): Viết rất nhanh bằng một nét móc lượn võng sang phải.
  • 家 (Gia): Kết cấu chữ co cụm lại ở phần trên và buông lơi nét móc ở dưới.
  • 停 (Đình): Đầu câu thứ 3 dồn xuống cuối hàng 2, nét chữ vuông vắn thể hiện sự "dừng lại" đúng như nghĩa của chữ.

Hàng 3 - (Hàng lớn bên trái - Cuối câu ba và trọn câu bốn)

  • 车 (Xa): Chữ trên cùng, viết tinh giản thành các nét thắt đứng dứt khoát.
  • 坐 (Tọa): Hai chữ "nhân" phía trên biến thành hai chấm nhỏ đối xứng qua nét dọc.
  • 爱 (Ái): Được viết rất phóng khoáng, nét xoắn tròn ở giữa thể hiện tâm trạng tràn đầy cảm xúc.
  • 枫 (Phong): Bộ mộc bên trái viết thanh, phần chữ "phong" bên phải viết to bè, bay bổng.
  • 林 (Lâm): Hai bộ mộc đứng cạnh nhau được giản lược thành các đường móc tơ liên hoàn nối liền nhau.
  • 晚 (Vãn): Chữ "Vãn" ở đây được viết biến thể rất bay bổng, nét gạch cuối kéo dài xuống thấp để kết thúc câu 3.
  • 霜 (Sương): Chữ khởi đầu câu 4, nét thanh nhẹ, dồn trọng tâm lên phần trên.
  • 叶 (Diệp): Viết rất thoáng, bộ khẩu biến thành một nét vòng nhỏ.
  • 红 (Hồng): Viết rất đậm và to góc bên trái để làm nổi bật từ "Đỏ" - linh hồn của bài thơ.
  • 于 (Ư): Viết thanh mảnh nối liền mạch từ chữ Hồng.
  • 二 (Nhị): Hai nét ngang viết nối nhau thành một đường ziczac lướt đi nhanh chóng.
  • 月 (Nguyệt): Nét chữ thon dài, ôm lấy các khoảng trắng bên trong.
  • 花 (Hoa): Chữ cuối cùng của bài thơ, được thu nét rất gọn gàng và móc nhẹ lên ngụ ý kết thúc bài.

Hàng 4 - Hàng khoản thức chữ nhỏ biên bái (Rìa góc trái)

  • 杜牧诗一首 (Đỗ Mục thi nhất thủ): Nghĩa là: Một bài thơ của Đỗ Mục.
  • 丁丑年夏 (Đinh Sửu niên hạ): Năm viết tác phẩm (mùa hạ năm Đinh Sửu 1997).
  • 焕生书 (Hoán Sinh thư): Do chính vị thư pháp gia Phùng Hoán Sinh viết.
      Phía dưới cùng là hai con dấu triện đỏ (Ấn chương) khẳng định bản quyền của tác giả.



III - LẠM BÀN.

1 - SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỚI "Cuồng thảo" (狂草) và "Thiền thư" (禅书).

     Trong thư pháp chữ Hán, chữ Thảo được đẩy lên đỉnh cao của cái "tôi" phóng khoáng qua phong cách Cuồng thảo của các bậc thầy như Trương Húc hay Hoài Tố (thời Đường). 

  • Người viết cuồng thảo không còn bị trói buộc vào cấu trúc vuông vắn thông thường. Họ mượn nét chữ để giải phóng năng lượng nội tâm.
  • Lối viết uốn lượn liên hoàn, nét đậm nhạt tương phản dữ dội trên bức hình bạn gửi phản ánh rất rõ tinh thần này: chữ nọ đan vào chữ kia, mực bay như rồng múa phượng vũ, xem trọng cái "thần vận" và dòng chảy cảm xúc lúc hạ bút hơn là sự ngay ngắn.

2 - TƯƠNG ĐỒNG VỚI THUÂN PHÁP TRONG HỘI HỌA THỦY MẶC: BÚT PHÁP TẢ Ý.  (写意)

      Hội họa và Thư pháp cổ phương Đông vốn chung một nguồn gốc ("Thư họa đồng nguyên"). Kiểu thư pháp bay bổng này sử dụng chung một tư duy kỹ thuật với lối vẽ Tả ý (vẽ ý nghĩa, vẽ cái hồn của vật chứ không vẽ chi tiết tỉ mỉ giống thật):

  • Lối dùng mực (Vận mặc): Bức thư pháp này sử dụng kỹ thuật tụ mực ở đầu nét rồi vuốt nhanh thành các dải lụa mực đen nhạt dần. Nó giống hệt như cách các họa sĩ dùng những nhát cọ lớn để vẽ lá sen già, thân cây trúc, hay những ngọn núi mờ ảo trong mưa.
  • Lối đi nét (Vận bút): Các nét uốn lượn, thắt nút rồi lại buông lơi trong tranh có sự tương đồng kỳ lạ với nét vẽ các dải mây hay dòng nước chảy siết trong tranh phong cảnh thủy mặc. Người ta không gò bút, mà "thuận" theo đà chuyển động của cổ tay và hơi thở để tạo ra nét vẽ.

3 - SỰ KẾT NỐI VỚI HỘI HỌA TRỪU TƯỢNG PHƯƠNG TÂY. 

     Nếu nhìn dưới lăng kính nghệ thuật hiện đại, phong cách thư pháp uốn lượn tự do này có điểm tương đồng rất lớn với trường phái Hội họa hành động (Action Painting) của phương Tây (như danh họa Jackson Pollock). Điểm chung là người nghệ sĩ biến quá trình vung bút, nhấc bút, tạo những vệt mực ngẫu hứng trên bề mặt thành trung tâm của nghệ thuật.

     Chính vì vậy, dù bức thư pháp này có thể bắt nguồn từ việc mô phỏng một thư gia cổ nào đó, nhưng cách người viết điều khiển ngọn bút tạo ra các nét dày - mỏng ngẫu hứng, kết hợp những khối mực đậm nhạt đan xen đã tạo ra một bức họa trừu tượng bằng ký tự có nhịp điệu và nhạc tính riêng.

      Bức thư pháp này là một ví dụ tuyệt vời cho thấy ranh giới giữa chữ viết và hội họa đã hoàn toàn bị xóa nhòa.

4 - "KẾ BẠCH TƯƠNG HẮC" (计白当黑): 

      Đây là một trong những mật mã nghệ thuật đỉnh cao và vi diệu nhất của thư pháp và hội họa Đông Phương.

      Cụm từ này do thư gia nổi tiếng thời Thanh là Đặng Thạch Như đúc kết, có nghĩa là: Tính toán, phân bổ khoảng trống (màu trắng của giấy) cũng quan trọng và phải dụng công như khi hạ mực (màu đen). Trong thư pháp, phần không viết chữ không phải là phần bỏ đi, mà chính là "khoảng thở", là linh hồn tạo nên sự cân bằng cho tổng thể bức thư pháp ("Kinh doanh vị trí", pháp thứ năm của Tạ Hách giống như bố cục của phương Tây).

      Nhìn vào bức thư pháp chữ Thảo bài thơ "Sơn hành" này, chúng ta hãy cùng phân tích cách tác giả "chơi đùa" với khoảng trắng để đạt đến sự hài hòa:

a. Sự tương phản "Mật" (Dày đặc) và "Sơ" (Thưa thớt)

     Quy luật của "Kế bạch đương hắc" là "Mật bất thấu phong, sơ khả tẩu mã" (Chỗ dày đặc không để gió lọt qua, chỗ thưa thớt có thể phi ngựa được).

  • Hãy nhìn vào cột chữ thứ 2 và thứ 3: Tác giả cố tình viết các chữ đan cài, dính líu vào nhau tạo thành một mảng mực rất đậm và đặc. Khoảng trắng giữa các chữ gần như bị ép lại tối đa.
  • Đối lập lại ở cột chữ thứ 4 (ngoài cùng bên trái): Các chữ được kéo giãn ra, nét chữ thanh mảnh hơn hẳn. Khoảng trắng lúc này ùa vào, bao bọc lấy nét chữ, tạo ra một cảm giác vô cùng nhẹ nhàng, thư thái. Sự tương phản này khiến bức tranh không bị tù túng mà có sự nhịp điệu như một bản nhạc lúc dồn dập, lúc khoan thai.

b. Dòng chảy của "Khí" qua các khoảng trống dọc

       Nếu để ý đén các khoảng trống ngăn cách giữa 4 cột chữ lớn, chúng không phải là những đường thẳng tắp, đều đặn như dòng kẻ vở.

  • Tác giả đã cho các chữ "lấn sân" sang nhau. Có chữ ở cột 2 phình to ra, lấn sang khoảng trắng của cột 1. Có nét chữ ở cột 3 lại kéo dài xuống dưới, chiếm không gian của cột 4.
  • Điều này tạo ra những đường rãnh trắng uốn lượn, ziczac chạy dọc từ trên xuống dưới. Trong phong thủy và nghệ thuật, đây gọi là "Mạch khí". Khoảng trắng uốn lượn này dẫn dắt ánh mắt của người xem trôi chảy liên tục từ quyền này sang quyển khác mà không bị đứt gãy.

c. Trọng lực và sự giải thoát ở khoảng trống ở phần chân bức thư pháp.

       Một điểm cực kỳ tài tình trong bố cục này là cách xử lý khoảng trống ở phần cuối của các hàng chữ (chân bức thư pháp):

  • Cột 1 và cột 3 kết thúc ở khoảng giữa chừng, để lại một khoảng trắng lớn phía dưới.
  • Cột 2 và cột 4 lại được kéo dài hẳn xuống dưới đáy.
    Cách sắp xếp so le này tạo ra một thế cân bằng động. Khoảng trắng lớn ở góc dưới cùng bên phải và bên trái đóng vai trò như một "bàn đỡ", giúp cho toàn bộ khối lượng mực đậm đặc ở phía trên không bị cảm giác nặng nề, đổ ụp xuống. Nó tạo ra sự thanh thoát, khiến bức thư pháp như đang bay lên chứ không bị ghì chặt vào mặt giấy.

d. Khoảng trắng tôn vinh nét "Tảo bạch" (Cháy mực)

      Ở một số nét chữ viết nhanh (đặc biệt là chữ ở cột cuối), mực không thấm đều mà để lộ ra những sợi giấy trắng li ti bên trong nét đen (gọi là kỹ thuật Phi bạch hay Tảo bạch). Đây là lúc trắng ở trong đen, đen chứa đựng trắng. Khoảng trắng xuất hiện ngay trong lòng nét chữ tạo ra cảm giác hoài cổ, rêu phong như một thân cây già cỗi, thể hiện rõ cái "tôi" mạnh mẽ và tốc độ đi bút quyết liệt của tác giả.


Kết luận

     Qua cách phân bổ "Kế bạch đương hắc", tác giả Phùng Hoán Sinh đã chứng minh một tư duy nghệ thuật rất chín: Dùng cái Không (khoảng trắng) để định hình cái Có (nét chữ). Chính những khoảng trắng ngỡ như vô hình đó lại là sợi dây vô hình kết nối các nét chữ rời rạc thành một chỉnh thể nghệ thuật sống động và tự nhiên.




Cauminhngoc
Cẩn ghi và lưu.
14/9/2026

(1). Chữ Thảo là thể chữ viết nhanh, các nét được lược bớt, nối liền nhau, uốn lượn liên tục. Trong bức thư pháp này khi người viết dùng ngọn bút lông mềm và mực đậm, những chỗ đặt bút ban đầu thường có xu hướng tụ mực thành các chấm tròn lớn, rồi kéo dài thanh mảnh khi chuyển nét nhanh. Điều này vô tình tạo ra cấu trúc nét "đầu to, đuôi nhỏ, uốn lượn" rất giống hình dáng những con nòng nọc (khoa đẩu) đang bơi.

(2). Không thấy trong phần giới thiệu đính trong hộp đựng bức thư pháp này ghi thư pháp gia Phùng Hoán Sinh sinh năm nào! Nhưng dựa theo phần lạc khoản của bức thư pháp ghi thì Phùng Hoán Sinh viết bức thư pháp này vào năm 1997. Khi đó ông 68 tuổi! vậy năm sinh của ông vào khoảng năm 1929.







Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

TRANH IN BẰNG KỸ THUẬT THỦ CÔNG THƯỜNG GẶP.

 

 Dưới đây là loạt tranh minh họa cho những kỹ thuật in đồ họa thường gặp, hiện người viết đang sở hữu.


                                                     I - TRANH KHẮC GỖ.


Họa sĩ: UTAMARO (1753-1806)  Kt: Chuban (18.5cm x 27cm x 3)


Họa sĩ: UTAMARO (1753-1806). Kt: OBan (24.5cm x 36.8cm).
             


Họa sĩ: HOKUSAI (1760-1849). Say rượu. Kt: OBan (22cm x 34cm).
Họa sĩ: HOKUSAI. Mỹ nhân soi gương. Kt: Hoshoban (16.2cm x 34cm)



                                                 
                        Hoai sĩ: Katsukawa SHUNCHO (1726-1793). Trời mưa. Kt: Chuban (19.5 x 29cm).
                        Họa sĩ: Katsukawa SHUNCHO (1726-1793). Con mèo. Kt: Hoshoban. (17 x 33.9cm)  


 
          Họa sĩ: Tạ Tỵ (1921-2004). Tình mẫu tử. Kt: 26mc x 36cm. Niên đại: 1964.    
   Họa sĩ: Sĩ Ngọc (1919-1990). Chân dung Vũ trọng Phụng. Bìa sách 1956.


        Họa sĩ: Nguyễn Gia Trí (1908-1993). Minh họa cho giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943         
Nhà văn Khái Hưng (1896-1947). Mịnh họa cho bài thơ "Tương biệt dạ" trong giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943.

Họa sĩ: Nguyễn Gia Trí (1908-1993). "Kẻ khó chẳng lo ba ngày Tết". 
 Kt: 24.5cm x 37.8cm. Phụ bản giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943. 



Họa sĩ: Nguyễn Tư Nghiêm (1919-2016). 
Phụ bản báo Nghiên cứu nghệ thuật 1983 & 1984.
 

Họa sĩ: Nguyễn Tiến Chung (1916-1974). Phụ bản quyển Chùa Đàn, Kt: 20cm x 25cm. Năm 1946.  
                              Họa sĩ: Bùi Xuân Phái (1920-1988). Bìa báo Văn Nghệ năm 1951.


Họa sĩ: Nguyễn Đạo Hưng (Sn: 1939). Tĩnh vật hoa. Bản vẽ và bản khắc gỗ. Kt: 19cm x 23cm.
Niên đại: Thập niên 60/TK.20.
  

II - TRANH THỦ ẤN HỌA.

Họa sĩ: Tú Duyên (1915-2012). "Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng".
Kt: 61cm x 30cm. Đầu thập niên 1960.

Họa sĩ: Uyên Huy_Huỳnh Văn Mười (Sn:1950).
Mẹ con. Kt: 85cm x 61cm. Thủ ấn họa/lụa. Niên đại: Đầu thập niên 80/TK.20.



III - TRANH LITHOGRAPHES.


 
1 - Họa sĩ: Lê Yên (1913-1975). Phật A Di Đà. Kt: 27cm x 38cm. 
         Đề tặng cựu Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Saigon năm 1983 ở mặt lưng tranh                 


2 - Họa sĩ: Henry Vincent Anglade. (1876 - 1956). Kt: 32cm x 49cm.


 
3 - Họa sĩ: J.G. Besson (1868 – 1942). 
Trích trong bộ "Monographie dessinee de L'Indochine". in năm 1935.


    
4 - Họa sĩ: Lê Phổ (1907-2001). Bìa quyển "Office Indochinois du Tourisme" Thập niên 30/TK20. 
Kt: 21.2cm x 22.7cm.
5 - Họa sĩ: G.Fouillé. (1909-1994). Đua thuyền buồm. Kt: 38cm x 56cm. 

 


IV - TRANH IN ĐẤT THÓ (CLAYCUT).

Họ sĩ: Lê Thanh Trừ (1932-2019). 
Đất thó/giấy. Kt: 56cm x 41cm. Năm: 1986.


Họa sĩ: Lê Thanh Trừ (1932-2019). 
Đất thó/giấy. Kt: 51cm x 40cm. Tranh in năm 1992. 


V - TRANH KHẮC KẼM (GRAVUE).

a - Trích trong quyển "La Terre de Buddha". 
Gồm 27 bức phụ bản, Kt: 15.5cm x 18.5cm. in năm 1923. 

 Họa sĩ: Andre Joyeux (1876-1956). 



b - Họa sĩ: CL .Lorrain. Kt: 76cm x 55cm. 
Người khắc bản: J.P. LE  BAS (1707-1783). Niên đại: Thế kỷ 18.  



c - Họa sĩ: Tạ Tỵ. Chân dung Phan Lạc Tuyên. Bản kẽm. Kt: 8cm x 10cm. Năm 1956
 và bản in trên giấy.



VI - TRANH CHROMOLITH.

a - Trích trong quyển: Revue Horticole 1883. Kt: 16cm x 25cm. Gồm 24 phụ bản toàn màu. 
Họa sĩ: Godard vẽ. Thực hiện in Chromolith: G. Severeyns. Năm 1883.


Hình 22. Bomarea Kalbreyeri. 
 Hình 6. Dendrobium eburneum.


Hình 01. Caraguata Cardinalis.
 Hình 15. Poire Marguerite Marillat. 


b - Trích trong quyển: "La cultura dei cotoni in italia" , gồm có 13 phụ bản.
Kt: 32cm x 46cm. Niên đại: 1877-1878.

 
Cromolith: C. Visconti.      Dis: F. P. Rivas.



VII - TRANH TYPOGRAPHY.

Họa sĩ: Emile Gallalois.
Trích trong bộ: "Costumes  de L’union Francaise",  gồm 44 bản in toàn màu.
Kt: 23.5cm x 31.5cm. Năm 1946. 

Số 12. Algerie. Femme de l'Aures (Afrique).
Số 14. Algerie. Femme Ouled-nail (Afrique). 

Số 16. Maroc. Femme du Moyen-atlas (Afrique)
Số 35. Indochine. Femme Annamite (Asia).

Số 37. Indochine (Tonkin). Femme Lu (Asia)
Số 39. Indochine (Tonkin) Femme Nung.


VIII - TRANH KÉO LỤA.

Họa sĩ: Trần Hiển Quang. Ba cô gái Bắc Trung Nam. Kt: 53cm x 105cm. Năm 1974.



Chưa rõ tác giả.



IX - TRANH KHA LA BẢN (COLLOTYPE).

Họa sĩ: Thập Dực Phạm Tăng (Sn: 1938). Tô Đông Pha. Kt: 31cm x 78cm. 
Chưa rõ nơi thực hiện Kha la bản. Thực hiện sau năm 1993.


Họa sĩ: Thập Dực Phạm Tăng (Sn: 1938). Lão Tử. Kt: 31cm x 78cm. 
Chưa rõ nơi thực hiện Kha la bản. Thực hiện sau năm 1993.



     
Họa sĩ: Nhậm Bá Niên (1840-1895). Trúc thạch. Kt: 40cm x 93cm. 
Chưa rõ năm và nơi thực hiện Kha la bản.



X - BẢN RẬP TỪ CÁC HIỆN VẬT CỔ


"Phong kiều dạ bạc". của Trương Kế. Mực nho/giấy. Kt: 68cm x 130cm. Bản rập từ Hàn San Tự năm 1982.



XI - TRANH BẢN RẬP (CAMPUCHIA?).

Tranh dân gian chưa rõ xuất xứ.


Kt: 42.5cm x 45.5cm.

Kt: 40cm x 50cm.

 Kt: 45cm x 45cm.

Kt: 45cm x 45cm.



Cauminhngoc
06/9/2026.