Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

HỌA SƯ TRẦN CHƯƠNG KHANH. ÔNG LÀ AI?

         I - TÁC PHẨM HOA ĐIỂU CỦA HỌA SƯ TRẦN CHƯƠNG KHANH.


Hình 01 - Họa sư Trần Chương Khanh. (Chưa rõ năm sinh và mất). 
Tác phẩm: Hoa điểu. Mực nho màu/giấy xin chỉ. Kích thước: 42cm x 33cm. Năm vẽ Canh Tuất (1970). (Bức tranh sau khi phục chế).

Lạc khoản của bức tranh ghi: 庚戌孟春於越都陳章卿寫. 
(Canh Tuất Mạnh Xuân ư Việt đô. Trần Chương Khanh tả).
   Chính vì chuyện ghi niên đại theo Can Chi trên tác phẩm như thế này đã làm cho chuyện xác định niên đại trở nên khó khăn nếu không nắm được lý lịch của tác giả. Một thói quen của người xưa gây trở ngại không ít cho hậu sinh khi đối mặt...


II- BỨC TRANH NGUYÊN THỦY CHƯA PHỤC CHẾ. 

Hình 02 - Ảnh chụp bức tranh vào Tháng 4 năm 2012 khi mới mua chưa bồi lại.

Ghi chú sau khi mua năm 2012. (Trích trong phần lý lịch mua).

      Bức tranh mang trên mình một số dấu hiệu xuống cấp:

·        - Cái “lá đỏ” ở góc phải trên nằm sát rạt với biên giấy vẽ.

·       - Phần lạc khoản viết dọc theo rìa phải cho thấy hàng chữ nằm khá sát với mép giấy (Hình 09). Bình thường khi vẽ các họa sĩ thường luôn phải chừa khoảng cách nét vẽ với mép giấy ít nhất cũng từ hai phân (02cm) trở lên chứ không thể vẽ sát rạt như đã nêu trên. Việc làm này để tránh tình trạng khi bồi bị xén phạm vào chủ thể.

·       - Phần riềm giấy bảo vệ tranh là giấy có màu nâu nhạt, điểm xuyết hoa văn màu trắng. Đặc biệt riềm biên bên phải đã bị rách mất để lộ mép giấy vẽ.

·         - Bề mặt giấy xín chỉ của bức tranh đã xuống cấp có chỗ bị hoen ố vì ngấm nước.

·       - Chung quanh chu vi bức tranh, mép giấy bị côn trùng nhấm lam nham và phía góc trái dưới tờ giấy vẽ bị côn trùng ăn khuyết một mảng khá lớn gần 07cm vuông...”.

       Căn cứ vào độ lão hóa trên bề mặt tác phẩm. Từ giấy vẽ đến giấy sử dụng làm riềm đã xuống cấp rất rõ. Đồng thời chuyện bức tranh được bồi lại là một yếu tố rất quan trọng trong việc thẩm định hiện vật. Đem so sánh với một số tranh thủy mặc có niên đại từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1975 hiện đang lưu giữ cho thấy giấy vẽ của những năm 1940-1970 khác hẳn với bức hoa điểu của Trần Chương Khanh, cả hai có phần chênh khá rõ về phương diện bị lão hóa tự nhiên giữa hai vật phẩm rất rõ ràng nên đã chủ quan cho là bức tranh của họa sư Trần Chương Khanh vẽ vào năm 1910 (庚戌).

    

         III - BỨC TRANH Ở GIAI ĐOẠN PHỤC CHẾ, BIỂU LỚP PHÍA SAU LƯNG.

   Do bức tranh đã xuống cấp, nếu để như vãy sẽ tổn hại thêm nên vào năm 2016. nhân lúc rảnh rỗi nên mới lôi ra đem bồi lại. Bức tranh được tháo ra hoàn toàn. Các phụ kiện cũ như giấy biểu lót phía sau lưng và riềm giấy bảo vệ, phần nào còn tốt thì được tận dụng tái sử dụng.

          1 - Ảnh chụp bức tranh và một vài chi tiết đang trong công đoạn biểu lớp lót sau lưng. 


Hình 03 - Bức tranh đang phục chế ở giai đoạn biểu lớp lót sau lưng.

Hình 04 - Góc trái dưới được phục chế. 
Tận dụng giấy lót lưng cũ của bức tranh để vá chỗ bị khuyết.


Hinh 05 - Cạnh phải bức tranh. 
Chữ viết nằm sát biên tờ giấy... cho thấy đã được bồi lại lộ dấu vết cắt xén bớt.


2- Ảnh chụp bức tranh sau khi phục chế.

Hình 06 - Họa sư Trần Chương Khanh. Hoa điểu. Canh Tuất (1970).
Kích thước không tính riềm: 42cm x 32.5cm.
Kích thước kể cả riềm: 52.5cm x 38cm.

Hình 07 - Dấu hiệu giấy vẽ bị hủy hoại và đã có cắt xén ở góc phải trên.

Hình 08 - Cận cảnh giấy vẽ bị côn trùng ăn khuyết một mảng lớn ở góc trái dưới



Hình 09 - Cân cảnh giấy vẽ bị hủy hoại nơi viết lạc khoản sát biên giấy bên phải.


Hình 10 - Cân cảnh giấy vẽ bị hủy hoại ở góc phải dưới.

    IV – CÂU CHUYỆN VỀ NIÊN ĐẠI BỨC TRANH.

Phần lạc khoản có ghi: 庚戌孟春於越都陳章卿寫

     (Canh Tuất Mạnh Xuân ư Việt đô. Trần Chương Khanh tả).   

      Phần lạc khoản này thì đã lõm bõm ngay từ thuở mới rước về nhưng chỉ chú ý đến tên họa sĩ và niên đại mà thôi. Sau thời gian tìm hiểu thấy họa sĩ không có tên tuổi gì trên họa trường nên chỉ đánh giá bức tranh thuộc loại tầm tầm, do tranh vẽ đẹp và công phu nên lưu giữ. Do không nắm được lý lịch ngày sinh và mất của họa gia Trần Chương Khanh nên thật sự lúng túng cho việc xác định niên đại Canh Tuất của bức tranh giữa hai niên đại 1910 và 1970.  Sau khi dựa vào yếu tố vật lý tác động trên bề mặt bức tranh nên đã chủ quan cho là bức tranh vẽ vào năm Canh Tuất (1910 Tây lịch) và cứ đinh ninh như thế suốt một thời gian dài. Cho đến ngày 21/8/2026, qua sự đánh động của Lão Ngạc tiên sinh trên Facebook nên quay trở lại tìm hiểu căn kẽ xem sao. Và đưa cả bức tranh hoa điểu của họa sư Trần Chương Khanh vào hỏi Google AI. 


     Và chị Google AI đã cho biết như sau:

1. Phiên âm chữ Hán

庚戌孟春於越都陳章卿寫    

2. Tách chữ và Phiên âm Hán-Việt

  • 庚戌 (Canh Tuất) – Năm sáng tác (thuộc chu kỳ thiên can địa chi, gần nhất là năm 1970 hoặc xa hơn là 1910).
  • 孟春 (Mạnh xuân) – Tháng đầu tiên của mùa xuân (tức là Tháng Giêng âm lịch).
  • (Ư) – Tại, ở.
  • 越都 (Việt đô) – Thủ đô/Đô thành nước Việt (ở đây chỉ vùng Sài Gòn - Chợ Lớn xưa, nơi họa sĩ sinh sống và làm việc).
  • 陳章卿 (Trần Chương Khanh) – Tên của tác giả. Ông là một họa sĩ thủy mặc người Hoa nổi tiếng tại vùng Chợ Lớn trước năm 1975, từng tham gia giảng dạy mỹ thuật tại các trường học địa phương.
  • (Tả) – Vẽ, viết (từ thường dùng cuối lạc khoản tranh thủy mặc thay cho từ "họa").
  • 3. Dịch nghĩa

Trần Chương Khanh vẽ tại Đô thành nước Việt vào tháng Giêng năm Canh Tuất (1970).

Phía dưới dòng chữ có hai dấu triện đỏ (ấn chương) của chính họa sĩ dùng để định danh và làm bảo chứng cho tác phẩm. 


       Và Google AI cũng cho thông tin về lý lịch họa sĩ Trần Chương Khanh.

     Chào bạn, thông tin về các họa sĩ thủy mặc thế hệ trước tại vùng Chợ Lớn (Sài Gòn) thường không được phổ biến rộng rãi trên Internet bằng tiếng Việt, mà chủ yếu nằm trong ký ức của các môn sinh, hoặc các bài báo tiếng Hoa của cộng đồng người Hoa địa phương.

Qua tra cứu và xâu chuỗi các tư liệu lịch sử mỹ thuật Chợ Lớn, tôi xin phép cung cấp những thông tin lý lịch rất giá trị về Họa sĩ Trần Chương Khanh (陈章卿) để bạn tham khảo:

1. Vị thế trong làng thư họa Chợ Lớn xưa

  • Thế hệ vàng của mỹ thuật Việt-Hoa: Họa sĩ Trần Chương Khanh là một trong những bậc thầy, danh họa thủy mặc kỳ cựu hoạt động sôi nổi tại vùng đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn (đặc biệt là quận 5, quận 6) giai đoạn trước năm 1975. 
  • Trường phái nghệ thuật: Ông chuyên về dòng tranh Hoa Điểu (chim muông và hoa lá) và Sơn Thủy. Phong cách họa của ông kế thừa tính chuẩn mực, tinh tế của nghệ thuật tạo hình truyền thống nhưng nét bút phóng khoáng, biểu cảm sinh động (như chính thần thái hai chú chim trên cành cây lá đỏ trong bức tranh của bạn). 

2. Vai trò người thầy "Khai tâm" cho nhiều họa sĩ tên tuổi

Họa sĩ Trần Chương Khanh không chỉ sáng tác mà còn dành phần lớn cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục, được kính trọng như một bậc tiền bối "Khai tâm" (người thầy đầu tiên) đặt nền móng cho nhiều họa sĩ danh tiếng sau này:

  • Họa sĩ Trương Lộ (Sn.1952) (Chủ nhiệm CLB Mỹ thuật người Hoa TP.HCM): Trong tiểu sử chính thức của danh họa thủy mặc Trương Lộ, ông ghi nhận mình học mỹ thuật tại Chợ Lớn từ năm 1970 đến 1975 và được thụ giáo trực tiếp từ các bậc thầy lớn thời bấy giờ, trong đó có thầy Trần Chương Khanh, bên cạnh thầy Chiêm Quốc Hùng và Trương Đạt Văn. 
  • Họa sĩ Đồng Kinh Hoạt (Sn.1949) (佟京樺 - Hiện đang hoạt động tại Đài Loan): Họa sĩ nổi tiếng này sinh năm 1949 tại miền Bắc, di cư vào Sài Gòn năm 1954. Trong các tư liệu triển lãm cá nhân tại Đài Loan, ông luôn trân trọng ghi rõ: “Thời trung học tại Tây Cống (Sài Gòn), người thầy khai tâm, truyền cảm hứng nghệ thuật thủy mực đầu tiên cho ông chính là họa sĩ Trần Chương Khanh”.
  • Họa sĩ Hoàng Hiền Vĩ: Một gương mặt tiêu cực của làng họa Chợ Lớn. Theo báo Sài Gòn Giải Phóng Hoa văn, năm 17 tuổi, họa sĩ Hoàng Hiền Vĩ đã chính thức bái sư và theo học những nét bút thủy mặc đầu đời từ thầy Trần Chương Khanh.
  • Họa sĩ Lục Kim: Một họa sĩ đồng thời là võ sư Vịnh Xuân Quyền tại Chợ Lớn, cũng tự hào giới thiệu bản thân là học trò thừa hưởng nét bút từ thầy Trần Chương Khanh.

3. Giá trị tác phẩm hiện tại

  • Các tác phẩm của Trần Chương Khanh hiện nay đa số nằm trong các bộ sưu tập tư nhân lâu đời của các gia đình người Hoa gốc Chợ Lớn hoặc được con cháu lưu giữ làm gia bảo. 
  • Bức tranh bạn đang sở hữu được vẽ vào tháng Giêng năm Canh Tuất (1970), đây là giai đoạn đỉnh cao và chín muồi nhất trong sự nghiệp sáng tác cũng như giảng dạy của ông tại Đô thành Việt Nam (Sài Gòn) trước khi có những biến động lịch sử. 

       Thông tin về năm sinh, năm mất cụ thể của ông khá hiếm do tư liệu cũ thất lạc, nhưng việc tên tuổi ông xuất hiện trang trọng trong lý lịch trích ngang của hàng loạt họa sĩ tên tuổi đã chứng minh ông là một "bậc thầy của những bậc thầy" trong làng tranh thủy mặc Nam Bộ.

                                                             

       V - SO SÁNH GIẤY RIỀM VÀ LÝ GIẢI VIỆC BỨC TRANH ĐƯỢC BỒI LẠI:


A - SO SÁNH RIỀM GIẤY CỦA THẬP NIÊN 70/TK.20.

a - Hoa văn giấy riềm năm 1970, trên tác phẩm hoa điểu của họa sư Trần Chương Khanh.

Hình 11.

Hình 11bis.

b - Hoa văn giấy riềm năm 1973. Trên tác phẩm: "Trạo ca thanh tại thủy vân gian" của nữ họa sĩ Ngô Ngọc Anh. 

Hình 12 - Nữ họa sĩ. Ngô Ngọc Anh. "Trạo ca thanh tại thủy vân gian". 
Quí Sửu (1973). Kt: 59cm x 119cm. (Không tính riềm).

c - So sánh hoa văn trên giấy của năm 1970 và 1973.

 
Hình 13 - Hoa văn trên giấy riềm của năm 1970 và năm 1973. Cả hai đồng dạng. 

     Từ sự so sánh thực tế này vấn đề được nêu ra: Niên đại chính xác của bức "hoa điểu" này được vẽ vào năm nào?

      c - Niên đại của bức tranh "Hoa điểu": 

        Sau khi tham khảo ý kiến của Lão Ngạc cùng học giả Hán Nôm Lê Anh Minh, Phạm Hoàng Quân và cả Google AI nữa nhưng tất cả vẫn không làm sáng tỏ được ngày sinh và mất của họa sư Trần Chương Khanh. Nên thử đặt vấn đề về việc niên đại này xem sao.

     * Dựa vào những điều mà Google AI cung cấp: họa sư Trần Chương Khanh đã từng dạy cho một số họa sĩ ở Cholon như: Trương Lộ (Sn: 1952), Đồng Kinh Hoạt (Sn:1949), Hoàng Hiền Vĩ và Lục Kim. Xét năm sinh của vài họa sĩ theo học với họa sư Trần Chương Khanh tính đến thời điểm 1970, cho thấy các đệ tử của ông Khanh đều hơn kém 20 tuổi.

    * Từ chuyện họa sư Trần Chương Khanh đã có day vẽ ở Cholon trước năm 1975, cộng với cụm từ "Ư Việt Đô" đủ để khẳng định họa sư Trần Chương Khanh đã hiên diện ở Việt Nam từ trước năm 1970. Rất có thể là Trần Chương Khanh đã di cư vào Việt Nam cùng thời với một số họa sĩ như: Á Sĩ; Đới Ngoan Quân (1913-2003); Hà Lãn Hùng; Trương Quýnh Sơ; Lương Thiếu Hàng (1911-1976); Lưu Khúc Triều; A Phan (Phan Tự Phước//Sn:1926- ?)); Thiềm Quốc Hùng...v...v... vào đầu Thế kỷ.20.
 
       Để giúp cho việc tìm hiều về tiểu sử của Họa sư Trần Chương Khanh đồng thời xem ông vẽ bức hoa điểu này vào độ tuổi nào, ta tạm dùng niên đại của hai họa sư Đới Ngoạn Quân (1913-2003) và Lương Thiếu Hàng (1911-1976) làm mốc. Lấy năm sinh của hai vị họa sư này đem đối chiếu với niên đại Canh Tuất trong tác phẩm hoa điểu [1970 - (1911; 1913)]. Lúc đó Đới Ngoạn Quân và Lương Thiếu Hàng đều chưa tới 60 tuổi. Nếu cho rằng họa sư Trần Chương Khanh đồng trang lứa thì độ tuổi của ông cũng chỉ xê xích trên dưới 60 tuổi mà thôi. Với bút pháp tinh tế chi ly của bức hoa điểu vẽ theo lối công bút như thế ta có thể cho là họa sĩ Trần Chương Khanh vẽ bức tranh này ở độ tuổi trên dưới 60 là phù hợp.


        B - LÝ GIẢI CHO CHUYỆN BỨC TRANH ĐƯỢC BỒI LẠI. 
     
       Một thắc mắc cần làm rõ, đó là chuyện bức tranh đã được bồi lại khi nào? 

       Nếu cho là bức tranh vẽ vào năm 1970. Hãy nhìn vào hiện trạng bức tranh mua vào năm 2012 (xem từ  Hình.7 đến 14)) và sử dụng loại giấy riềm của Thập niên 70/TK.20. Chắc chắn bức tranh bị bỏ bê không bảo quản kỹ nên bị xuống cấp trầm trọng (dựa vào dấu cắt xén trên bức tranh). 

      Phải chăng năm 1970 Trần Chương Khanh vẽ xong để nguyên chưa biểu và bồi thêm riềm rồi đem tặng cho ai đó. Người được tặng cất giữ, đến vài năm sau, có thể trong quãng thời gian từ 1970 trở về sau, chưa rõ khi nào mới mở ra xem thấy bị hư hại nên mới đưa đi bồi để bảo quản. [chứ nếu cho rằng bức tranh được bồi ngay trong năm 1970 thì tại sao bức tranh lại bị cắt xén đến sát với hình họa và lạc khoản như thế (xem hình 07 đến hình 10)].
Có lẽ đây là điều để lý giải cho việc sử dụng giấy làm riềm có hoa văn giống của năm 1973. 

     Kể từ khi bồi lại (có thể từ 1971) bức tranh trải qua một thời gian dài từ năm 1971 cho đến 2012. Với quãng thời gian khoảng 40 năm, bức tranh do không được bảo quản kỹ nên tiếp tục bị xuống cấp như đã thấy khi mua vào năm 2012 (Hình 14).


                          
                      Hình 14 - Hiện trạng bức tranh khi mua vào năm 2012.


C - SO SÁNH VỚI MỘT VÀI MẪU VẬT KHÁC.


                          
     Hình 15. Họa sĩ Trần Chương Khanh. Hoa điểu. Mực màu/giấy. Canh Tuất (1970).



Hình 16. Họa sĩ Lâm Sinh. Tùng hạc diên niên. Mực màu/lụa. Canh Tuất (1910?- 1970?).
Độ lão hóa tác động trên lụa thể hiện rất rõ. Chưa rõ năm nào!?



Hình 17. Lạc khoản: Chấp cửu niên thu nguyệt chuyết lư chủ nhân Thao Hậu tả, 

                  卄九年秋月拙廬主人滔後寫 (Mùa thu năm 1940).

                            Một tác phẩm vẽ năm 1940. Giấy vẫn còn tốt.


    Tóm lại: Do chưa biết rõ về năm sinh và mất của họa sư Trần Chương Khanh nên xảy ra tình huống bán tín bán nghi như thế này. Nhưng giả thuyết cho rằng họa sư Trần Chương Khanh vẽ bức hoa điểu này vào năm 1970 là điều rất rõ ràng khó có thể chối cãi. 


Cauminhngoc
26/8/2016.



 















THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).

 THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).

QUA TRANH ĐỒ HỌA CÓ TÔ MÀU TAY.


Bài viết có tham khảo từ nguồn: Google AI và nhà nghiên cứu Hán Nôm Lê Anh Minh.


    Đây là bài viết của người rất yêu thích những miêu pháp mô tả sự vật cùng nếp áo trong tranh thủy mặc Trung Quốc. Một miêu pháp đặc thù rất sinh động mà người viết đã từng mày mò tìm hiểu nhưng gặp phải sự bế tắc qua một thời gian dài và một điều khá là ngạc nhiên khi những vị họa sĩ người Hoa ở Cholon hầu như rất ít người quan tâm khai thác lãnh vực độc đáo này. 

     Cũng may sao trong tay hiện lưu giữ được 4 tác phẩm đồ họa của họa sĩ Phạm Tăng, một cao thủ trong làng thư họa Trung Quốc đương đại vẽ với thủ pháp "y văn miêu" nên lấy đó làm gốc để mở rộng tầm hiểu biết về lãnh vực đã từng yêu thích này. Toàn bộ 4 bức đều là những sản phẩm được tái tạo bằng kỹ thuât đồ họa dựa vào các tác phẩm gốc của Thập Dực Phạm Tăng đồng thời có cho tô thêm màu tay, có thể xem đây là những ấn bản đặc biệt dành cho những ai yêu thích họa sĩ Phạm Tăng mà không đủ điều kiện mua do tính độc bản hoặc về giá trị kinh tế. Mặc dù tranh đồ họa không thể lột tả được trọn vẹn cái tinh tế trong từng mạch bút của bản gốc nhưng với các bản in đồ họa cao cấp có tô thêm màu tay này cũng giúp cho ta năm bắt được phần nào cái tinh diệu trong cách dụng mặc và miêu pháp cá biệt của Thập Dực Phạm Tăng. Có lẽ chúng ta phải chấp nhận chuyện này vì không thể làm gì khác.

       Lưu ý. Bài viết này được xem như là một sự tóm lược những gì đã tiếp thụ qua nguồn mở trên mạng xã hội cũng như tham khảo với bạn bè. Việc làm này không ngoài mục đích lưu giữ làm tư liệu để mỗi khi cần đến là có thể xem ngay khỏi mất công đào bới lại từ đầu rất mất thời gian...

Trân trọng.  

Cauminhngoc.


I – SƠ LƯỢC TIỂU SỬ:

      Thập Dực Phạm Tăng (十翼范曾). Sinh ngày 5 tháng 7 năm 1938, hiệu là Thập Dực, biệt hiệu Bão Xung Trai chủ. Ông là một đại danh họa, nhà thư pháp, nhà thơ và học giả nổi tiếng bậc nhất của Trung Quốc đương đại.

  • Xuất thân & Học vấn: Ông sinh ra tại Nam Thông, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, trong một gia đình có truyền thống văn hóa lâu đời. Ông từng theo học tại Đại học Nam Khai và Học viện Mỹ thuật Trung Ương Trung Quốc, thụ giáo nhiều bậc thầy lớn như Lý Khổ Thiền, Lý Khả Nhiễm.
  • Phong cách: Tranh của Phạm Tăng nổi tiếng về mảng nhân vật mộc bút (bạch điêu, họa tạc ý), kết hợp uyển chuyển giữa thơ ca, thư pháp và hội họa truyền thống Trung Hoa.
  • Học hàm & Chức vụ: Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư thực thụ của Đại học Nam Khai, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc.
  • Danh tiếng quốc tế: Thập Dực Phạm Tăng từng được vinh danh là một trong những họa sĩ đương đại có giá trị tác phẩm cao tại Trung Quốc và được thế giới công nhận. Ông cũng từng được trao Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp.
  • Đời tư gần đây: Tên tuổi của ông tiếp tục gây bão truyền thông quốc tế khi ở tuổi 86 (vào năm 2024), ông kết hôn với người vợ thứ tư là Xu Meng (Từ Mông, kém ông 50 tuổi) và đến cuối năm 2025, cặp đôi đã đón con trai đầu lòng.

 

II – BỘ TRANH ĐỒ HỌA CÓ TÔ MÀU TAY CỦA THẬP DỰC PHẠM TĂNG.

Hình 01. Loạt tranh ấn bản đặc biệt, gồm 4 bức của Thập Dực Phạm Tăng.

 

1 – BÁI THẠCH (拜石).



 

                                                     Hình 02. Bái thạch (拜石). Tích Mễ Phế?

                                      Đồ họa/tô màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                    Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.

                                  Lạc khoản: 壬申年 仲夏 抱冲齋主 十翼范曾 於巴黎  

          (Năm Nhâm Thân, giữa mùa Hạ, Bão Xung Trai Chủ, hiệu Thập Dực, tên Phạm Tăng ở Paris).

 

2 – CHUNG QUÌ: 驚芒立 (Kinh mang lập).


 

Hình 03. Chung Quỳ.驚芒立 (Kinh mang lập). Tích Chung Quỳ.

Đồ họa/tô màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                  Dựa theo bản vẽ năm Quý Dậu (1993). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.     

   Lạc khoản:

龍媒載傑起遐荒, (Long môi tái kiệt khởi hà hoang,)

喚醒春溫化雪霜。 (Hoán tỉnh xuân ôn hóa tuyết sương.)

雷掣輕蹄風掣電, (Lôi xiết khinh đề phong xiết điện,)

故教字字立驚芒。 (Cố giáo tự tự lập kinh mang.)

癸酉仲夏抱冲齋主十翼范曾澳門.

(Quý Dậu (1993) Trọng Hạ, Bão Xung Trai Chủ, Thập Dực, Phạm Tăng ư Áo Môn).


3 – LÃO TỬ XUẤT QUAN (老子出關).


 

                                                       Hình 04. Lão Tử xuất quan (老子出關). Tích Lão Tử.

                                                Đồ họa/màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                                 Lạc khoản: 抱冲斋主范曾 (Bão Xung Trai Chủ Phạm Tăng).

                                          十翼意於巴黎 壬申仲夏 (Thập Dực ý ư Ba Lê, Nhâm Thân trọng hạ).

                        Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.    

 

4 – HẬU XÍCH BÍCH PHÚ (後赤壁賦).


Hình 05. Hậu Xích Bích phú (後赤壁賦). Tích Tô Đông Pha...?

   Đồ họa/màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

Lạc khoản: 後赤壁賦 (Hậu Xích Bích phú)

              壬申年仲夏十翼范曾 (Nhâm Thân niên (1992) Trọng hạ, Thập Dực Phạm Tăng).

                           Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa. 

 

III – KỸ THUẬT IN.

     Dựa vào độ tinh xảo từng đường nét của bản in, cho thấy đây không thể là kỹ thuật in khắc gỗ litho vì không tìm thấy những dấu vết đặc thù thường để lại trên bề mặt sản phẩm sau khi in của mỗi thể loại vừa nêu. Sau khi tham khảo và đối chiếu thực tế những bản in sẵn có người viết cho rằng. Rất có thể nhà xuất bản đã sử dụng kỹ thuật in Kha-la bản (Collotype / 珂羅版). Một kỹ thuật in mới lạ chưa hề thấy nhắc đến ở Việt Nam.

     Một vài hình ảnh về những thể loại tranh: Khắc gỗ màu; Lothographes và Kha la bản (Collotype).


a - Tranh khắc gỗ Nhật Bản (Ukiyo-e).

 
  
Suzuki Harunobu (1720-1775).


b - Tranh lithographes.  

 
J.G. Besson (1868 – 1942).


c - Kha-la bản (珂羅版) // Collotype (kỹ thuật in keo ảnh).


 
Nhậm Bá Niên (1840–1896).



Theo như Google AI cho biết.

         Kỹ thuật In Kha-la bản (Collotype / 珂羅版): Đây là phương pháp in quang cơ cổ được phát minh năm 1855. Kỹ thuật này dùng tấm kính phủ lớp gelatin nhạy sáng làm khuôn in. Nhờ không dùng lưới lọc điểm ảnh, công nghệ tái tạo hình ảnh và sắc độ cực kỳ mịn màng, chân thực. Kỹ thuật này là "vua phục chế tranh cổ" của Trung Quốc đầu thế kỷ 20 (rất thịnh hành từ những năm 1910 - 1940). Kha-la bản không có các hạt tram lưới như in công nghiệp hiện đại, tạo ra độ chuyển màu mực vô cùng mịn màng, giống tranh vẽ tay đến 95%. Nhiều bức tranh quý của bảo tàng cố cung đã được phục chế bằng cách in Kha-la bản nét đen, sau đó tô màu tay lên.

        Đặc điểm và quy trình in Kha-la bản.

Nguyên lý hoạt động.

  • Dùng lớp gelatin pha muối bicromat phơi sáng qua phim âm bản.
  • Vùng nhận nhiều ánh sáng sẽ cứng lại và giữ nước.
  • Vùng nhận ít ánh sáng mềm đi và hút mực dầu.
  • Không dùng màn hình bán sắc (độ phân giải vô hạn về mặt quang học).

Ưu điểm nổi bật

  • Tái tạo sắc độ liên tục: Hình ảnh có chiều sâu và độ chuyển màu mượt mà.
  • Chất lượng lưu trữ: Bản in sắc nét, bền màu theo thời gian.

Ứng dụng nghệ thuật: Thường dùng sao chép tranh cổ và ảnh nghệ thuật cao cấp.

 

 IV – KỸ THUẬT VẬN MẶC VÀ MIÊU PHÁP SỬ DỤNG TRONG TRANH PHẠM TĂNG:

A – VẬN MẶC.

Kỹ thuật dụng mực (Vận mặc - 运墨) độc đáo của Phạm Tăng

   Trong hội họa truyền thống Trung Hoa theo lý thuyết mực đen sẽ cho ra năm sắc độ khác nhau gồm: Đậm, nhạt, khô, ướt, trong trẻo (Mặc phân ngũ sắc). Tuy nhiên, Phạm Tăng đã nâng tầm lý thuyết này biến nó thành một nét cá biệt mang đậm dấu ấn "Thập Dực".

1. Kỹ thuật "Tích mặc" (Tích tụ mực) và "Phá mặc" (Phá vỡ mực)

  • Bản chất: Phạm Tăng không dặm mực hay tô đi tô lại một cách thụ động. Khi vẽ, ông thường dùng các nét mực nhạt (đạm mặc) làm nền trước, sau đó dùng mực đậm (nồng mặc) chọc thẳng vào khi lớp mực trước chưa kịp khô hoàn toàn.
  • Hiệu ứng: Hai lớp mực đậm nhạt thẩm thấu, loang lổ vào nhau một cách tự nhiên nhưng có kiểm soát. Kỹ thuật này giúp tạo ra độ dày, độ mờ ảo của mây khói, hoặc chất sần sùi của da trâu, vỏ cây cổ thụ mà không cần dùng đến màu sắc.

2. Sự tương phản tuyệt đối giữa "Khô" (Tiêu khát) và "Ướt" (Nhuận trạch)

  • Khô (Cáo bút): Khi vẽ tóc, râu của các triết gia (như Lão Tử, Chung Quỳ) hay nếp gấp thô của áo vải, ông dùng ngọn cọ rất ít nước (khô mực). Nét vẽ xước ra, để lộ những khoảng trắng của giấy Tuyên (gọi là Phi bạch), tạo cảm giác già cỗi, gân guốc, phong trần.
  • Ướt (Tẩm mặc): Ngược lại, khi vẽ làn da em bé (mục đồng) hay cơ thể mềm mại, ông dùng ngọn cọ ngậm no nước và mực. Nét vẽ mượt mà, đầy đặn, căng tràn sức sống.

3. Triết lý "Kế bạch đương hắc" (Coi khoảng trắng như mực đen)

       Phạm Tăng là bậc thầy trong việc để lại những khoảng trống (lưu bạch). Đối với ông, khoảng giấy trắng không phải là chỗ trống bỏ quên, mà là nơi mực "chạy" vào trong tâm trí người xem. Một nét mực vận đi, kéo theo một khoảng trắng mênh mông biến thành bầu trời, dòng sông hay ý niệm vô vi của Đạo giáo. Mang đến cho người thưởng lãm một cảm súc ảo thị đến chân tơ kẽ tóc.


B – MIÊU PHÁP.

         Một số miêu pháp thấy được trong 4 bức tranh đồ họa của Phạm Tăng.

         Đối với phong cách của Phạm Tăng trong bức tranh này, các đường nét nếp áo và vật thể được thể hiện qua các loại miêu pháp chủ đạo sau:

1.      Chiết lư miêu (折芦描 - Vẽ nếp gấp lau sậy)

·        Chiết lư miêu (Nét vẽ như nhánh lau sậy bị bẻ gãy). Là loại bút pháp cốt lõi tạo nên phần trang phục của hai nhân vật trong ảnh. Khi vận cọ, họa sĩ dùng phần rìa của ngọn bút (trắc phong) xoay chuyển đột ngột, tạo ra các góc gập nhọn, sắc cạnh, mạnh mẽ. Đường nét có xu hướng thô, dứt khoát và chuyển hướng gãy khúc đột ngột giống như một cành lau sậy bị bẻ gãy.

  • Tác dụng: Tạo cảm giác tà áo vải thô vô cùng dày dặn, cứng cáp, mang đậm khí chất phong trần, cương nghị và tư tưởng ẩn dật thoát tục.

2. Khô sài miêu (枯柴描 - Vẽ củi khô)

  • Khô sài miêu (Nét vẽ như những cành khô trơ trụi) hoặc đôi khi kết hợp với Chước tạc miêu (剁描 - Nét góc cạnh như nhánh củi bị chặt ra từng đoạn). Trong tranh thể hiện rất rõ ở phần vạt áo phía dưới chân nhân vật và các cấu trúc đá, vách núi phía sau. Đường nét khô ráo, góc cạnh, cứng ngắc và có độ xước nhất định do cọ ít nước (phi bạch). Nét vẽ trông giống như những thanh củi khô hay các vết rìu chặt vào thớ gỗ, đá tảng.
  • Tác dụng: Biểu đạt cấu trúc gồ ghề của đá và nếp áo thô ráp chịu sương gió, hòa hợp nhân vật vào bối cảnh thiên nhiên vách đá già cỗi.

3. Đinh đầu thử vĩ miêu (钉头鼠尾描 - Nét đầu đinh đuôi chuột)

  • Đinh đầu thử vĩ miêu. Nét vẽ giống như cây đinh dùng để đóng vào chassis mỗi khi căng vải bố vẽ, có đầu chè bè duôi nhọn hoắt. Trong tranh nó xuất hiện ở một số nếp gấp động trên cánh tay phóng khoáng của nhân vật. Khi hạ bút, họa sĩ nhấn mạnh cổ tay tạo một chấm vuông lớn chắc nịch như đầu đinh, sau đó kéo nhanh và vuốt nhỏ dần, thu ngọn cọ sắc nhọn như đuôi con chuột.
  • Tác dụng: Tạo sự chuyển động linh hoạt, mềm mại nhưng vẫn giữ được bộ khung xương khỏe khoắn cho trang phục.

Tóm lại: Bằng cách hòa trộn nhuần nhuyễn giữa Chiết lư miêuKhô sài miêu, Phạm Tăng đã hiện thực hóa trọn vẹn triết lý "Thư pháp làm xương". Thay vì tô vẽ hình khối, ông dùng chính sức nặng, độ nhấn nhá và những khúc gãy góc của nét chữ thư pháp để "dựng khung" cho nếp áo, khiến bức tranh toát lên vẻ tiêu sái, ngạo nghễ.

    C – MIÊU PHÁP CƠ BẢN VẼ NẾP ÁO TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG TRUNG QUỐC.

       Cơ bản nhất là Y văn Thập Bát Miêu (十八描) là tên gọi cho 18 kỹ thuật vẽ nếp gấp quần áo truyền thống (y văn) trong hội họa Trung Hoa cổ đại. Hệ thống này khái quát các phương pháp sử dụng đường nét (tuyến miêu) nhằm lột tả các loại chất liệu vải (tơ lụa, vải thô, gấm vóc) và phong thái của nhân vật từ thời Ngụy-Tấn, Đường, Tống cho đến khi được đúc kết hoàn chỉnh vào thời nhà Minh bởi Trâu Đức Trung trong cuốn Hội sự chỉ mông.

        Dưới đây là chi tiết về 18 phép vẽ nếp áo, được phân bổ làm 4 nhóm chính:

1. Nhóm nét vẽ thanh mảnh, uyển chuyển (Phù hợp vải lụa mềm)

  • Cao cổ du ty miêu (高古游丝描): Nét vẽ thanh mảnh, tròn đều như sợi tơ xuân (hay tơ tằm kéo), di chuyển đều tay không có sự thay đổi đột ngột về độ dày. Đây là kỹ thuật lâu đời nhất, thường thấy trong tranh mỹ nữ, thần tiên của Cố Khải Chi (thời Đông Tấn).
  • Cầm huyền miêu (琴弦描): Nét vẽ thẳng, đều đặn và có độ căng như dây đàn. Kỹ thuật này dày hơn một chút so với Du ty miêu, lột tả các nếp áo rủ thẳng đứng của trang phục lụa.
  • Thiết tuyến miêu (铁线描): Nét vẽ cứng cáp, tròn trịa, dày đều vững chãi như sợi dây sắt, không có vệt yếu mềm. Phương pháp này thể hiện các loại vải có độ dày và đứng dáng.
  • Hành vân lưu thủy miêu (行云流水描): Nét vẽ uốn lượn, liên tục mềm mại như mây trôi nước chảy, thể hiện sự bay bổng của tà áo cổ trang khi có gió.

2. Nhóm nét vẽ nhấn thả, có nhịp điệu (Khắc họa nếp gấp tự nhiên)

  • Lan diệp miêu (兰叶描): Nét vẽ mô phỏng hình lá lan, có sự biến chuyển rõ rệt giữa nhấn (đậm, dày) và thả (nhạt, thanh) nhờ lực cổ tay. Kỹ thuật do "Họa thánh" Ngô Đạo Tử (thời Đường) phát triển, tạo cảm giác vô cùng sống động.
  • Mã hoàng miêu (蚂蝗描): Đường nét uốn lượn tự nhiên, hai đầu nhọn và uốn cong giống như con đỉa (mã hoàng) di chuyển. Nét vẽ uyển chuyển nhưng không bị đứt đoạn, tạo độ dày cho vải bạt hay vải bố.
  • Đinh đầu thử vĩ miêu (钉头鼠尾描): Khởi bút nhấn mạnh, dứt khoát tạo thành hình như đầu đinh, sau đó kéo dài và vuốt nhỏ dần về cuối như đuôi chuột. Kỹ thuật này mang tính tạo hình cao, thể hiện nếp gấp dứt khoát.
  • Tao y miêu (曹衣描 / 曹衣出水): Cách vẽ nếp áo dày đặc, ôm sát vào cơ thể nhân vật như vừa từ dưới nước bước lên. Do họa sĩ Tào Trọng Đạt khởi xướng, thường dùng vẽ tượng Phật hoặc vải mỏng như lụa mỏng.

3. Nhóm nét vẽ mô phỏng hình thể thực vật (Đậm tính ước lệ)

  • Tảo hạch miêu (枣核描): Nét vẽ có hai đầu nhọn, phần giữa phình to tròn trịa giống như hạt táo. Thường dùng nét bút lớn để tả vải thô.
  • Chất lư miêu (折芦描): Nét vẽ dài, thanh mảnh nhưng đến các đoạn chuyển góc thì gập gãy sắc cạnh giống như lá lau, lá sậy bị bẻ gập. Nét vẽ tạo cảm giác sắc sảo, mạnh mẽ.
  • Liễu diệp miêu (柳叶描): Giống như hình lá liễu, nét vẽ mềm mại hơn Tảo hạch miêu nhưng có độ phình nhẹ ở giữa và thanh thoát ở hai đầu.
  • Trúc diệp miêu (竹叶描): Mô phỏng kỹ thuật vẽ lá trúc trong tranh thủy mặc. Hạ bút nghiêng, vuốt nét ngắn, dứt khoát, nếp gấp ngắn và gãy gọn.

4. Nhóm nét vẽ phóng khoáng, góc cạnh (Phù hợp vải thô, rách, phong cách tả ý)

  • Hỗn miêu (混描): Sự kết hợp giữa nét vẽ nhạt (đạm mặc) làm nền nếp gấp trước, sau đó dùng mực đậm (nồng mặc) điểm xuyết chồng lên để tăng độ dày và lập thể.
  • Quất đầu đinh miêu (头丁描): Điểm khởi bút cực kỳ thô, mạnh và vuông vức như đầu đinh sắt lớn, nét vẽ ngắn, thể hiện chất liệu áo tơi, vải thô ráp của tầng lớp lao động.
  • Chiến bút thủy văn miêu (战笔水纹描): Dùng ngòi bút chuyển động run rẩy, gấp khúc liên tục tạo ra các đường lượn sóng. Cách này mô phỏng nếp nhăn nheo của trang phục cũ hoặc nếp áo của người già.
  • Giảm bút miêu (减笔描): Tối giản hóa đường nét đến mức tối đa, chỉ dùng vài nét bút phóng khoáng nhưng lột tả được toàn bộ cấu trúc tà áo. Điển hình là tranh vẽ của Lương Khải (thời Tống).
  • Khô sài miêu (枯柴描): Sử dụng bút khô (tiêu mặc) lướt nhanh trên giấy tạo ra các nét xước, rạn nứt như cành củi khô, lột tả hoàn hảo các bộ quần áo rách rưới, vải thô sơ của bang chúng, hành giả.

Khâu dẫn miêu (蚯蚓描): Nét vẽ tròn, uốn lượn liên tục, đều đặn mượt mà và chuyển động chậm rãi như con giun (khâu dẫn) bò.

 

V – NIÊN ĐẠI CỦA BỐN BỨC TRANH.

      Đây là loạt tranh in theo kỹ thuật đồ họa thủ công dựa vào bản gốc của Thập Dực Phạm Tăng vẽ có ghi niên đại rất rõ ở vào hai năm (1992) và (1993). Toàn bộ 4 bức chưa rõ được in vào năm nào và do ai đứng ra xuất bản. Nhưng căn cứ theo niên đại mà Phạm Tăng đã ghi trong tranh, từ đó suy ra những tác phẩm đồ họa này phải được in ra sau năm 1993 chứ không thể sớm hơn.



Hình 06 - Hồng trung ( )? nhãn dán ở đầu trục bức tranh.

            Nét chữ bị mờ đọc chưa chính xác. Không rõ đây là nhà xuất bản hay cửa hàng bán tranh!?

 

VI. SO SÁNH 2 BỨC ĐỒ HỌA ĐƯỢC TÁI HIỆN LẠI TÁC PHẨM CHUNG QUỲ.

        Đây là hai bức đồ họa cùng lấy chung từ tác phẩm Chung Quỳ, rất tiếc là không tìm thấy bản gốc vẽ tay của Phạm Tăng để mà so sánh.


Hình 07.    Chung Quỳ (a)                  Chung Quỳ (b)

         Khi đặt hai bức tranh Chung Quỳ (a); (b) cạnh nhau, chúng ta có thể nhận thấy hai hướng chế tác hoàn toàn khác biệt từ cùng một bản gốc của Phạm Tăng:

  • Về đường nét cốt (Nét mực đen): Bản chất các nét mực đen (nét cốt lõi) định hình nhân vật, con ngựa và các chữ viết của cả hai bức giống nhau đến hơn 95% từ vị trí, chp đến hình dáng. Điều này khẳng định: Cả hai bức đều sử dụng chung một công nghệ in nền cốt đen (dùng kỹ thuật in Mộc bản thủy ấn hoặc Thạch bản) lấy từ cùng một bản gốc duy nhất của Phạm Tăng vẽ về Chung Quỳ vẽ năm 1993 (Quý Dậu).

  • Về công đoạn hậu kỳ: Theo như kỹ thuật in mộc bản thì nét đen sẽ in sau cùng để đóng khung sự vật. Nhưng trong tác phẩm Chung Quỳ này thì nét đen cốt lõi được in xong rồi mới bổ sung việc dùng tay tô thêm vào hai màu đỏ và sám, hai bức được xử lý theo hai phong cách khác nhau:

   i - Bức Chung Quỳ (a): Bức này cho thấy được nhà xuất bản đặt vấn đề quan tâm ngay từ đầu, họ muốn nâng tầm sản phẩm của mình lên một vị thế cao cấp (ấn bản đặc biệt), nên sau khi cho in nét cốt lõi xong, họ giao cho nhóm nghệ nhân khác (1) có nhiệm vụ tô thêm màu vào góp phần cho bức tranh được sinh động hơn, quan sát kỹ sẽ thấy:

-        Màu đỏ: ở khuôn mặt và áo bào. Mỗi nơi đều có sắc độ đậm nhạt khác nhau biểu diễn được nét đỏ hồng của khuôn mặt, cũng như nếp gấp dày mỏng của vải tạo khối rất sống động.

-        Màu xám: mô tả râu tóc, đôi giày, bờm và đuôi ngựa, đồng thời nó cũng tạo khối lẫn góc cạnh, góp phần mô tả được sự mạnh mẽ của đôi chân con ngựa. Cái tuyệt khéo của người tô màu là đã dùng sắc độ đậm nhạt thật tinh tế để chuyển tải được cái chất của sự vật rất rõ ràng.

Nói chung là hai màu đỏ và xám được khai thác rất mạch lạc đâu ra đó và đặc biệt là thực hiện kỹ thuật vẩy bột khoáng trắng thủ công dày đặc để tạo không gian bão tuyết (phù hợp với nội dung bài thơ "Kinh Sa" - vượt qua tuyết sương).

    ii - Bức Chung Quỳ (b): Người chế tác không vẩy đốm tuyết vào bề mặt bức tranh. Mảng màu đỏ trên áo bào được tô phẳng không có độ đậm nhạt. Bờm ngựa cũng không được vẽ vào nên bức tranh nhìn thấy khô khan hụt hẫng. Đã vậy, họ còn ép thêm 3 dấu ấn triện giả cổ kích thước khá to vào giữa tranh trên đầu nhân vật Chung Quỳ, mục đích để tạo cảm giác đây là một bức tranh cổ quý hiếm từng nằm trong các bộ sưu tập hoàng gia hoặc đại gia tộc thời xưa. Nhưng chính vì chuyện làm trái khoáy này mà phần bố cục bức tranh khi nhìn vào có cảm giác như bị một cái gì đó đè nặng trên đầu mất đi cái thanh thoát, đồng thời kìm hãm sức mạnh của con ngựa đang trên đà phóng tới...

          Ý kiến đánh giá tổng quan

  • Cả hai bức tranh này đều là các ấn bản mỹ nghệ sao chép (Fine Art Reproductions) được thực hiện bằng kỹ thuật in cốt đen kết hợp tô màu tay thủ công từ bức vẽ gốc năm 1993 của Phạm Tăng.

·        Bức Chung Quỳ (a) vẫn có giá trị thưởng lãm và nghệ thuật hơn bức Chung Quỳ (b), vì nó có sự đồng bộ hoàn hảo và kỹ thuật vẩy tuyết thủ công của nó tạo ra hiệu ứng thị giác nổi khối, sinh động và có chiều sâu không gian hơn hẳn bức Chung Quỳ (b) được tô phẳng có đóng 3 dấu triện lớn.

 

VII – MỘT VÀI TÁC PHẨM CỦA PHẠM TĂNG LẤY TRÊN MẠNG XÃ HỘI.

                         Lấy điển tích Lão Tử Xuất quan và Chung Quỳ.






Cauminhngoc

04/9/2026


(1)   Đôi khi nhà in giao lại cho chính tác giả thực hiện chuyện tô màu tay này, vì giao cho chính họa sĩ thực hiện sẽ mang đến nhiều điều thuận lợi, do góc nhìn chuyên nghiệp và bàn tay điêu luyện thì mọi sự sẽ chuẩn xác tinh tế và sống động hơn. Còn như giao cho thợ thực hiện, việc tô màu tay này mang tính chiếu lệ cho có, hoàn toàn vô cảm khô khan mất hẳn đi sự tinh tế cuốn hút (Xem Hình 07 (a) và (b) sẽ rõ).

    Tôi nghĩ vậy vì dựa vào chuyện có thật đã xảy với tôi. Vào đầu thập niên 80/TK.20 khi mua được bộ tranh in litho “Cochinchine – Culte – Tome VIII”, tôi có dịp gặp và hỏi họa sĩ Nguyễn Siên về bộ tranh. Ông xem và chỉ vào những bức tranh có ký tên CÔN vẽ Lăng Ông (Lăng Lê văn Duyệt ở Gia Định) cho biết đó là tranh của bạn ông vẽ, muốn biết thêm gì về bộ tranh này cứ hỏi ông Côn sẽ rõ. Tôi có giải bày với ông Siên là rất mê cách tô màu nước để thể hiện ánh sáng rất rực rỡ và sống động của ông Côn trong tranh, thấy tôi ngưỡng mộ như vậy họa sĩ Nguyễn Siên đã nhiệt tình dẫn tôi đến nhà họa sĩ Côn tọa lạc ở khu vực cổng xe lửa số 6 quận Phú Nhuận để tôi có dịp diện kiến, đồng thời ông Siên cũng nói với tôi là muốn cho họa sĩ Côn có dịp xem lại những tác phẩm của mình sau nửa thế kỷ.

     

  
Tờ giới thiệu bộ tranh litho nói về Nam Kỳ. Xuất bản năm 1935.

         Khi cầm trong tay bộ tranh, họa sĩ Côn rất thích thú đồng thời cho tôi biết thêm là sau khi in litho xong, nhà in đã đưa lại cho ông những bản in đen trắng để ông tô thêm màu tay vào rồi mới đem đi giao cho nhà xuất bản. Bà Côn cũng cho biết cứ mỗi bức như vậy ông Côn được nhận thù lao là 10 đồng Đông Dương. Trước khi ra về tôi đã xin ông Côn ký tên vào những bức tranh và ông Côn đã vui vẻ ký tên mình vào những bức tranh bằng bút bi mực xanh.