Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026

PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI THƠ "SƠN HÀNH" CỦA ĐỖ MỤC.

 PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI THƠ "SƠN HÀNH" CỦA ĐỖ MUC. 


        Thuở mới tái hồi cuộc sống, bản thân vốn dĩ rất mù mờ về Hán Nôm nhưng lại rất thích ngắm nghía những mạch bút cực kỳ bay bổng lôi cuốn của dạng tự và cách dụng mưc trong những bức thư pháp và tranh thủy mặc. Do yêu thích hội họa và thư pháp Trung Quốc nên đã từng bỏ thời gian đi tìm thày học hỏi nhưng chẳng nên cơm cháo gì vì sức lực có hạn đồng thời bị cuộc sống nhồi cho lên bờ xuống ao mệt bở hơi tai hoa cả mắt mất cả phương hướng, may sao gặp người bạn người Hoa chân tình khuyên bảo hãy về ao nhà mà tắm cho phẻ chứ ao người vừa rộng vừa đông làm sao chen được cái chân gỗ mục vào. Từ lời khuyên chí tình chí lý đó đã thay đổi hoàn toàn quan điểm cố chấp ban đầu và đã quay về "Ta về ta tắm ao ta". Dẫu vậy vẫn không thể gột bỏ hết được cái sở thích cho nên không gặp thì thôi chứ mà chạm mặt ưng mắt vừa túi là hốt không tha. Số trời cũng thương nên gặp phải một nửa không thể thiếu trong cuộc đời có máu thích chiều lại thường ngó lơ nên mới có dịp múa gậy vường hoang...

    Tôi rất thích bức thư pháp "Sơn hành" của Phùng Hoán Sinh này, bởi nó phô diễn một lối viết rất lạ và khá độc đáo, bức thư pháp mang một phong cách mà tôi cho là có đôi chút gần gũi với lối viết cổ xưa là "Khoa đẩu văn" (1). Bức thư pháp này tôi đã lưu giữ từ lâu, nay rảnh rỗi muốn đào sâu thêm nên đã đưa lên Google AI để hỏi và được Google AI phân tích và lý giải căn kẽ, chuyện này đã giúp cho tôi học hỏi được thêm rất nhiều về cách hành cử của thư pháp Trung Quốc. Tóm gọn như thế. Rất mong được thông cảm cho việc dốt mà lại hay thích chơi chữ...

  

Hình 01- Phùng Hoán Sinh. (Sn:1927?). "Sơn Hành" của Đỗ Mục. Kt: 49cm x 95cm. Viết năm; 1997.


Ảnh chụp cận cảnh để xem được rõ những nét bút và cách dụng mặc.



                                                                       Hình 01bis.



     I - PHẦN CHÚ GIẢI CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU HÁN-NÔM LÊ ANH MINH.

a - Phiên bản Hán tự và âm bài "Sơn hành".

遠上寒山石徑斜,Viễn thượng hàn sơn thạch kính tà

白雲生處有人家。Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia.

停車坐愛楓林晚,Đình xa tọa ái phong lâm vãn,

霜葉紅於二月花Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa.


Lạc khoản:  杜牧诗一首, 丁丑年夏,  煥生 書. 

Đỗ Mục thi nhất thủ. Đinh Sửu niên Hạ, Hoán Sinh thư.


b - Nội dung của những con dấu ở đầu và cuối bức thư pháp.


 Hình 02 - Long uyên mặc hải (龍 淵 墨 海) 


Hình 03 - Dấu triện trên:. Phùng Hoán Sinh (馮焕生) và dưới: Thạch Am (石)




II - TIỂU SỬ PHÙNG HOÁN SINH VÀ BÀI PHÂN TÍCH CỦA GOOGLE AI. 


A - TÓM TẮT TIỂU SỬ.

       Phùng Hoán Sinh (馮焕生), tự là Thạch Am (石), hiệu là Ngưu Ông (牛), chủ nhân của Mai Trúc Đường (梅主), người Phủ Thuận (抚順人). Hiện nay 68 tuổi, tốt nghiệp đại học, là giáo viên trung học cao cấp (2).  

      Ông là thành viên của Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Thư pháp Trung Quốc, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Thư pháp Thế giới, Ủy viên Ban chấp hành Hiệp hội Thư pháp Thanh thiếu niên Trung Quốc, và được mời làm họa sĩ kiêm thư pháp gia đặc ước của Thư Họa Gia Nghệ Thuật Báo, đồng thời là phóng viên thư họa.

     Thời gian đầu, ông học thư pháp theo lối của Liễu Công Quyền và Nhan Chân Khanh, sau đó học hỏi thêm từ Chử Toại Lương và Triệu Mạnh Phủ cùng các danh gia khác; ông cũng thông thạo cả bút pháp của Mễ Phế. Phong cách của ông thấm nhuần từ văn bia Bắc Ngụy, đồng thời tiếp thu thế mạnh của nhiều nhà, học hỏi từ bút pháp của Chung Diêu, và tham khảo sâu sắc ý niệm, tượng hình của "Nhị Vương" (Vương Hy Chi và Vương Hiến Chi). Từ thuở nhỏ cho đến nay, ông đã cống hiến và rèn luyện trong lĩnh vực thư pháp hơn 60 năm.

      Các tác phẩm thư pháp của ông đã được triển lãm nhiều lần cả trong và ngoài nước, từng đoạt nhiều giải thưởng. Qua sự đánh giá của các chuyên gia, tác phẩm của ông đã được tuyển chọn vào "Tuyển tập tác phẩm của các danh gia thư họa đương đại", đồng thời ông được phong tặng danh hiệu danh dự "Nghệ sĩ thư pháp nổi tiếng Trung-Ngoại" và chứng nhận tư cách "Nghệ sĩ thư pháp đương đại". Các tác phẩm của ông từ sớm đã được biên soạn vào cuốn "Đại từ điển thư họa khắc ấn thế giới".

     Nhiều tác phẩm thuộc các thể chữ Chân (Khải), Hành, Thảo, Lệ, Triện của ông đã được các gia đình và người yêu thích thư pháp tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Philippines, Canada, Úc, Anh, Mỹ cùng nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ khác sưu tầm.


B - PHÂN TÍCH SÂU VỀ BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT.

     Tác phẩm được viết theo thể Thảo thư (cụ thể là thiên về Hành ThảoKim Thảo), mang đậm dấu ấn phong cách phóng khoáng nhưng vô cùng chuẩn mực của tác giả Phùng Hoán Sinh.

  1. Khí vận liên miên (Sự liên kết dòng chảy):
    • Trục chữ không đứng yên một chỗ mà có sự uốn lượn, dịch chuyển sang trái, sang phải một cách uyển chuyển.
    • Các nét nối (gọi là du ti - nét tơ bay) xuất hiện liên tục. Có những cụm chữ được viết liền mạch bằng một nét bút duy nhất không nhấc lên (như cụm "Hàn sơn thạch" hay "Hồng ư nhị"). Điều này tạo cảm giác bài thơ như một dòng thác nước chảy xiết, tràn đầy sinh khí.
  2. Biến hóa về kết cấu và kích thước (Độ tương phản):
    • Tác giả điều phối độ to nhỏ của chữ vô cùng điêu luyện. Các chữ mang tính chất "động" như (), Xứ (), Ái (), Hồng () được phóng to, chiếm không gian lớn để làm điểm nhấn.
    • Ngược lại, các chữ như Sinh (), Hữu (), Nhân () lại được viết thu nhỏ, thanh mảnh, tạo khoảng trống tinh tế (gọi là kế bạch đương hắc - giữ khoảng trắng như giữ nét mực).
  3. Kỹ thuật điều bút (Nhấn và Lướt):
    • Nét bút có sự tương phản mạnh mẽ giữa độ đậm (mập) và độ thanh (ốm). Những nét xổ dọc của chữ () hay chữ Hạ ( / ở đây là chữ Vãn ) được kéo rất dài và mạnh mẽ, thể hiện lực cổ tay vững chãi, đúng như tiểu sử của ông là có nghiên cứu sâu về văn bia Bắc Ngụy và bút pháp của Nhị Vương.

C - ĐỐI CHIẾU VỊ TRÍ TỪNG CHỮ THẢO TRONG HÌNH.

      Bức thư pháp được trình bày theo lối truyền thống: Đọc từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Bài thơ gồm 28 chữ, được chia làm 3 hàng chính lớn và 1 hàng khoản thức (chữ nhỏ) ở rìa trái.

Hàng 1 - (Bên phải cùng - Câu thơ thứ nhất)

  • (Viễn): Chữ đầu tiên trên cùng, nét uốn lượn mảnh dẻ, lược bớt các chi tiết của bộ sước.
  • (Thượng): Viết dính liền ngay dưới chữ Viễn bằng một nét thắt nhanh.
  • (Hàn): Nét đậm ở phần đầu chữ, phần dưới biến thành các nét vòng móc liên tục.
  • (Sơn): Ba nét đứng của chữ Sơn được thu gọn thành một đường sóng lượn vô cùng ước lệ.
  • (Thạch): Thể hiện rõ hình khối, góc cạnh lượn tròn nối thẳng sang chữ tiếp theo.
  • (Kính): Bộ xích (bên trái) viết thành một nét dọc lượn, phần bên phải thu gọn tối đa.
  • (Tà): Chữ cuối cùng của hàng một. Nét xổ dọc ở cuối được kéo rất dài và đậm xuống tận đáy, tạo thế đứng vững chãi cho toàn hàng.

Hàng 2 - (Ở giữa - Câu thơ thứ hai và đầu câu ba)

  • (Bạch): Chữ trên cùng hàng giữa, nét mập, tròn trịa rõ ràng.
  • (Vân): Các nét ngang biến thành đường lượn thắt nút mềm mại như làn mây bay.
  • (Sinh): Viết tương đối nhỏ, nét mảnh lướt nhanh.
  • (Xứ): Được phóng to ra, nét chữ uốn lượn uốn khúc bao trọn khoảng trống phía dưới.
  • (Hữu): Nét gạch ngang dài chạy chéo, phần dưới tinh giản.
  • (Nhân): Viết rất nhanh bằng một nét móc lượn võng sang phải.
  • (Gia): Kết cấu chữ co cụm lại ở phần trên và buông lơi nét móc ở dưới.
  • (Đình): Đầu câu thứ 3 dồn xuống cuối hàng 2, nét chữ vuông vắn thể hiện sự "dừng lại" đúng như nghĩa của chữ.

Hàng 3 - (Hàng lớn bên trái - Cuối câu ba và trọn câu bốn)

  • (Xa): Chữ trên cùng, viết tinh giản thành các nét thắt đứng dứt khoát.
  • (Tọa): Hai chữ "nhân" phía trên biến thành hai chấm nhỏ đối xứng qua nét dọc.
  • (Ái): Được viết rất phóng khoáng, nét xoắn tròn ở giữa thể hiện tâm trạng tràn đầy cảm xúc.
  • (Phong): Bộ mộc bên trái viết thanh, phần chữ "phong" bên phải viết to bè, bay bổng.
  • (Lâm): Hai bộ mộc đứng cạnh nhau được giản lược thành các đường móc tơ liên hoàn nối liền nhau.
  • (Vãn): Chữ "Vãn" ở đây được viết biến thể rất bay bổng, nét gạch cuối kéo dài xuống thấp để kết thúc câu 3.
  • (Sương): Chữ khởi đầu câu 4, nét thanh nhẹ, dồn trọng tâm lên phần trên.
  • (Diệp): Viết rất thoáng, bộ khẩu biến thành một nét vòng nhỏ.
  • (Hồng): Viết rất đậm và to góc bên trái để làm nổi bật từ "Đỏ" - linh hồn của bài thơ.
  • (Ư): Viết thanh mảnh nối liền mạch từ chữ Hồng.
  • (Nhị): Hai nét ngang viết nối nhau thành một đường ziczac lướt đi nhanh chóng.
  • (Nguyệt): Nét chữ thon dài, ôm lấy các khoảng trắng bên trong.
  • (Hoa): Chữ cuối cùng của bài thơ, được thu nét rất gọn gàng và móc nhẹ lên ngụ ý kết thúc bài.

Hàng 4 - Hàng khoản thức chữ nhỏ biên bái (Rìa góc trái)

  • 杜牧诗一首 (Đỗ Mục thi nhất thủ): Nghĩa là: Một bài thơ của Đỗ Mục.
  • 丁丑年夏 (Đinh Sửu niên hạ): Năm viết tác phẩm (mùa hạ năm Đinh Sửu 1997).
  • 焕生书 (Hoán Sinh thư): Do chính vị thư pháp gia Phùng Hoán Sinh viết.
      Phía dưới cùng là hai con dấu triện đỏ (Ấn chương) khẳng định bản quyền của tác giả.



III - LẠM BÀN.

1 - SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỚI "Cuồng thảo" (狂草) và "Thiền thư" ().

     Trong thư pháp chữ Hán, chữ Thảo được đẩy lên đỉnh cao của cái "tôi" phóng khoáng qua phong cách Cuồng thảo của các bậc thầy như Trương Húc hay Hoài Tố (thời Đường). 

  • Người viết cuồng thảo không còn bị trói buộc vào cấu trúc vuông vắn thông thường. Họ mượn nét chữ để giải phóng năng lượng nội tâm.
  • Lối viết uốn lượn liên hoàn, nét đậm nhạt tương phản dữ dội trên bức hình bạn gửi phản ánh rất rõ tinh thần này: chữ nọ đan vào chữ kia, mực bay như rồng múa phượng vũ, xem trọng cái "thần vận" và dòng chảy cảm xúc lúc hạ bút hơn là sự ngay ngắn.

2 - TƯƠNG ĐỒNG VỚI THUÂN PHÁP TRONG HỘI HỌA THỦY MẶC: BÚT PHÁP TẢ Ý.  (写意)

      Hội họa và Thư pháp cổ phương Đông vốn chung một nguồn gốc ("Thư họa đồng nguyên"). Kiểu thư pháp bay bổng này sử dụng chung một tư duy kỹ thuật với lối vẽ Tả ý (vẽ ý nghĩa, vẽ cái hồn của vật chứ không vẽ chi tiết tỉ mỉ giống thật):

  • Lối dùng mực (Vận mặc): Bức thư pháp này sử dụng kỹ thuật tụ mực ở đầu nét rồi vuốt nhanh thành các dải lụa mực đen nhạt dần. Nó giống hệt như cách các họa sĩ dùng những nhát cọ lớn để vẽ lá sen già, thân cây trúc, hay những ngọn núi mờ ảo trong mưa.
  • Lối đi nét (Vận bút): Các nét uốn lượn, thắt nút rồi lại buông lơi trong tranh có sự tương đồng kỳ lạ với nét vẽ các dải mây hay dòng nước chảy siết trong tranh phong cảnh thủy mặc. Người ta không gò bút, mà "thuận" theo đà chuyển động của cổ tay và hơi thở để tạo ra nét vẽ.

3 - SỰ KẾT NỐI VỚI HỘI HỌA TRỪU TƯỢNG PHƯƠNG TÂY. 

     Nếu nhìn dưới lăng kính nghệ thuật hiện đại, phong cách thư pháp uốn lượn tự do này có điểm tương đồng rất lớn với trường phái Hội họa hành động (Action Painting) của phương Tây (như danh họa Jackson Pollock). Điểm chung là người nghệ sĩ biến quá trình vung bút, nhấc bút, tạo những vệt mực ngẫu hứng trên bề mặt thành trung tâm của nghệ thuật.

     Chính vì vậy, dù bức thư pháp này có thể bắt nguồn từ việc mô phỏng một thư gia cổ nào đó, nhưng cách người viết điều khiển ngọn bút tạo ra các nét dày - mỏng ngẫu hứng, kết hợp những khối mực đậm nhạt đan xen đã tạo ra một bức họa trừu tượng bằng ký tự có nhịp điệu và nhạc tính riêng.

      Bức thư pháp này là một ví dụ tuyệt vời cho thấy ranh giới giữa chữ viếthội họa đã hoàn toàn bị xóa nhòa.

4 - "KẾ BẠCH TƯƠNG HẮC" (计白当黑): 

      Đây là một trong những mật mã nghệ thuật đỉnh cao và vi diệu nhất của thư pháp và hội họa Đông Phương.

      Cụm từ này do thư gia nổi tiếng thời Thanh là Đặng Thạch Như đúc kết, có nghĩa là: Tính toán, phân bổ khoảng trống (màu trắng của giấy) cũng quan trọng và phải dụng công như khi hạ mực (màu đen). Trong thư pháp, phần không viết chữ không phải là phần bỏ đi, mà chính là "khoảng thở", là linh hồn tạo nên sự cân bằng cho tổng thể bức thư pháp ("Kinh doanh vị trí", pháp thứ năm của Tạ Hách giống như bố cục của phương Tây).

      Nhìn vào bức thư pháp chữ Thảo bài thơ "Sơn hành" này, chúng ta hãy cùng phân tích cách tác giả "chơi đùa" với khoảng trắng để đạt đến sự hài hòa:

a. Sự tương phản "Mật" (Dày đặc) và "Sơ" (Thưa thớt)

     Quy luật của "Kế bạch đương hắc""Mật bất thấu phong, sơ khả tẩu mã" (Chỗ dày đặc không để gió lọt qua, chỗ thưa thớt có thể phi ngựa được).

  • Hãy nhìn vào cột chữ thứ 2 và thứ 3: Tác giả cố tình viết các chữ đan cài, dính líu vào nhau tạo thành một mảng mực rất đậm và đặc. Khoảng trắng giữa các chữ gần như bị ép lại tối đa.
  • Đối lập lại ở cột chữ thứ 4 (ngoài cùng bên trái): Các chữ được kéo giãn ra, nét chữ thanh mảnh hơn hẳn. Khoảng trắng lúc này ùa vào, bao bọc lấy nét chữ, tạo ra một cảm giác vô cùng nhẹ nhàng, thư thái. Sự tương phản này khiến bức tranh không bị tù túng mà có sự nhịp điệu như một bản nhạc lúc dồn dập, lúc khoan thai.

b. Dòng chảy của "Khí" qua các khoảng trống dọc

       Nếu để ý đén các khoảng trống ngăn cách giữa 4 cột chữ lớn, chúng không phải là những đường thẳng tắp, đều đặn như dòng kẻ vở.

  • Tác giả đã cho các chữ "lấn sân" sang nhau. Có chữ ở cột 2 phình to ra, lấn sang khoảng trắng của cột 1. Có nét chữ ở cột 3 lại kéo dài xuống dưới, chiếm không gian của cột 4.
  • Điều này tạo ra những đường rãnh trắng uốn lượn, ziczac chạy dọc từ trên xuống dưới. Trong phong thủy và nghệ thuật, đây gọi là "Mạch khí". Khoảng trắng uốn lượn này dẫn dắt ánh mắt của người xem trôi chảy liên tục từ quyền này sang quyển khác mà không bị đứt gãy.

c. Trọng lực và sự giải thoát ở khoảng trống ở phần chân bức thư pháp.

       Một điểm cực kỳ tài tình trong bố cục này là cách xử lý khoảng trống ở phần cuối của các hàng chữ (chân bức thư pháp):

  • Cột 1 và cột 3 kết thúc ở khoảng giữa chừng, để lại một khoảng trắng lớn phía dưới.
  • Cột 2 và cột 4 lại được kéo dài hẳn xuống dưới đáy.
    Cách sắp xếp so le này tạo ra một thế cân bằng động. Khoảng trắng lớn ở góc dưới cùng bên phải và bên trái đóng vai trò như một "bàn đỡ", giúp cho toàn bộ khối lượng mực đậm đặc ở phía trên không bị cảm giác nặng nề, đổ ụp xuống. Nó tạo ra sự thanh thoát, khiến bức thư pháp như đang bay lên chứ không bị ghì chặt vào mặt giấy.

d. Khoảng trắng tôn vinh nét "Tảo bạch" (Cháy mực)

      Ở một số nét chữ viết nhanh (đặc biệt là chữ ở cột cuối), mực không thấm đều mà để lộ ra những sợi giấy trắng li ti bên trong nét đen (gọi là kỹ thuật Phi bạch hay Tảo bạch). Đây là lúc trắng ở trong đen, đen chứa đựng trắng. Khoảng trắng xuất hiện ngay trong lòng nét chữ tạo ra cảm giác hoài cổ, rêu phong như một thân cây già cỗi, thể hiện rõ cái "tôi" mạnh mẽ và tốc độ đi bút quyết liệt của tác giả.


Kết luận

     Qua cách phân bổ "Kế bạch đương hắc", tác giả Phùng Hoán Sinh đã chứng minh một tư duy nghệ thuật rất chín: Dùng cái Không (khoảng trắng) để định hình cái Có (nét chữ). Chính những khoảng trắng ngỡ như vô hình đó lại là sợi dây vô hình kết nối các nét chữ rời rạc thành một chỉnh thể nghệ thuật sống động và tự nhiên.




Cauminhngoc
Cẩn ghi và lưu.
14/9/2026

(1)Chữ Thảo là thể chữ viết nhanh, các nét được lược bớt, nối liền nhau, uốn lượn liên tục. Trong bức thư pháp này khi người viết dùng ngọn bút lông mềm và mực đậm, những chỗ đặt bút ban đầu thường có xu hướng tụ mực thành các chấm tròn lớn, rồi kéo dài thanh mảnh khi chuyển nét nhanh. Điều này vô tình tạo ra cấu trúc nét "đầu to, đuôi nhỏ, uốn lượn" rất giống hình dáng những con nòng nọc (khoa đẩu) đang bơi.

(2). Không thấy trong phần giới thiệu đính trong hộp đựng bức thư pháp này ghi thư pháp gia Phùng Hoán Sinh sinh năm nào! Nhưng dựa theo phần lạc khoản của bức thư pháp ghi thì Phùng Hoán Sinh viết bức thư pháp này vào năm 1997. Khi đó ông 68 tuổi! vậy năm sinh của ông vào khoảng năm 1929.







Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

TRANH IN BẰNG KỸ THUẬT THỦ CÔNG THƯỜNG GẶP.

 

 Dưới đây là loạt tranh minh họa cho những kỹ thuật in đồ họa thường gặp, hiện người viết đang sở hữu.


                                                     I - TRANH KHẮC GỖ.


Họa sĩ: UTAMARO (1753-1806)  Kt: Chuban (18.5cm x 27cm x 3)


Họa sĩ: UTAMARO (1753-1806). Kt: OBan (24.5cm x 36.8cm).
             


Họa sĩ: HOKUSAI (1760-1849). Say rượu. Kt: OBan (22cm x 34cm).
Họa sĩ: HOKUSAI. Mỹ nhân soi gương. Kt: Hoshoban (16.2cm x 34cm)



                                                 
                        Hoai sĩ: Katsukawa SHUNCHO (1726-1793). Trời mưa. Kt: Chuban (19.5 x 29cm).
                        Họa sĩ: Katsukawa SHUNCHO (1726-1793). Con mèo. Kt: Hoshoban. (17 x 33.9cm)  


 
          Họa sĩ: Tạ Tỵ (1921-2004). Tình mẫu tử. Kt: 26mc x 36cm. Niên đại: 1964.    
   Họa sĩ: Sĩ Ngọc (1919-1990). Chân dung Vũ trọng Phụng. Bìa sách 1956.


        Họa sĩ: Nguyễn Gia Trí (1908-1993). Minh họa cho giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943         
Nhà văn Khái Hưng (1896-1947). Mịnh họa cho bài thơ "Tương biệt dạ" trong giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943.

Họa sĩ: Nguyễn Gia Trí (1908-1993). "Kẻ khó chẳng lo ba ngày Tết". 
 Kt: 24.5cm x 37.8cm. Phụ bản giai phẩm Xuân Đời Nay năm 1943. 



Họa sĩ: Nguyễn Tư Nghiêm (1919-2016). 
Phụ bản báo Nghiên cứu nghệ thuật 1983 & 1984.
 

Họa sĩ: Nguyễn Tiến Chung (1916-1974). Phụ bản quyển Chùa Đàn, Kt: 20cm x 25cm. Năm 1946.  
                              Họa sĩ: Bùi Xuân Phái (1920-1988). Bìa báo Văn Nghệ năm 1951.


Họa sĩ: Nguyễn Đạo Hưng (Sn: 1939). Tĩnh vật hoa. Bản vẽ và bản khắc gỗ. Kt: 19cm x 23cm.
Niên đại: Thập niên 60/TK.20.
  

II - TRANH THỦ ẤN HỌA.

Họa sĩ: Tú Duyên (1915-2012). "Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng".
Kt: 61cm x 30cm. Đầu thập niên 1960.

Họa sĩ: Uyên Huy_Huỳnh Văn Mười (Sn:1950).
Mẹ con. Kt: 85cm x 61cm. Thủ ấn họa/lụa. Niên đại: Đầu thập niên 80/TK.20.



III - TRANH LITHOGRAPHES.


 
Họa sĩ: Lê Yên (1913-1975). Phật A Di Đà. Kt: 27cm x 38cm. 
         Đề tặng cựu Giám đốc Trường Cao đẳng Mỹ thuật Saigon năm 1983 ở mặt lưng tranh                 


Họa sĩ: Henry Vincent Anglade. (1876 - 1956). Kt: 32cm x 49cm.


 
Họa sĩ: J.G. Besson (1868 – 1942). 
Trích trong bộ "Monographie dessinee de L'Indochine". in năm 1935.


    
Họa sĩ: Lê Phổ (1907-2001). Bìa quyển "Office Indochinois du Tourisme" Thập niên 30/TK20.
Họa sĩ: G.Fouillé. (1909-1994). Đua thuyền buồm. Kt: 38cm x 56cm.  


IV - TRANH IN ĐẤT THÓ (CLAYCUT).

Họ sĩ: Lê Thanh Trừ (1932-2019). 
Đất thó/giấy. Kt: 56cm x 41cm. Năm: 1986.


Họa sĩ: Lê Thanh Trừ (1932-2019). 
Đất thó/giấy. Kt: 51cm x 40cm. Tranh in năm 1992. 


V - TRANH KHẮC KẼM (GRAVUE).

 Họa sĩ: Andre Joyeux (1876-1956). 
Trích trong quyển "La Terre de Buddha". 
Gồm 27 bức phụ bản, Kt: 15.5cm x 18.5cm. in năm 1923. 


Họa sĩ: CL .Lorrain. Kt: 76cm x 55cm. 
Người khắc bản: J.P. LE  BAS (1707-1783). Niên đại: Thế kỷ 18.  



Họa sĩ: Tạ Tỵ. Chân dung Phan Lạc Tuyên. Bản kẽm. Kt: 8cm x 10cm. Năm 1956
 và bản in trên giấy.



VI - TRANH CHROMOLITH.



Họa sĩ: Godard vẽ. Thực hiện in Chromolith: G. Severeyns. Năm 1883.
Trích trong quyển: Revue Horticole 1883. Kt: 16cm x 25cm. Gồm 24 phụ bản toàn màu. 


 
Cromolith: C. Visconti.      Dis: F. P. Rivas.
Trích trong quyển: "La cultura dei cotoni in italia" , gồm có 13 phụ bản.
Kt: 32cm x 46cm. Niên đại: 1877-1878.


VII - TRANH TYPOGRAPHY.



Họa sĩ: Emile Gallalois.
Trích trong bộ: "Costumes  de L’union Francaise",  gồm 44 bản in toàn màu.
Kt: 23.5cm x 31.5cm. Năm 1946. 



VIII - TRANH KÉO LỤA.

Họa sĩ: Trần Hiển Quang. Ba cô gái Bắc Trung Nam. Kt: 53cm x 105cm. Năm 1974.



Chưa rõ tác giả.



IX - TRANH KHA LA BẢN (COLLOTYPE).

Họa sĩ: Thập Dực Phạm Tăng (Sn: 1938). Tô Đông Pha. Kt: 31cm x 78cm. 
Chưa rõ nơi thực hiện Kha la bản. Thực hiện sau năm 1993.


Họa sĩ: Thập Dực Phạm Tăng (Sn: 1938). Lão Tử. Kt: 31cm x 78cm. 
Chưa rõ nơi thực hiện Kha la bản. Thực hiện sau năm 1993.



     
Họa sĩ: Nhậm Bá Niên (1840-1895). Trúc thạch. Kt: 40cm x 93cm. 
Chưa rõ năm và nơi thực hiện Kha la bản



X - TRANH BẢN RẬP (CAMPUCHIA?).

Tranh dân gian chưa rõ xuất xứ.


Kt: 42.5cm x 45.5cm.

Kt: 40cm x 50cm.

 Kt: 45cm x 45cm.

Kt: 45cm x 45cm.



Cauminhngoc
06/9/2026.