Thứ Tư, 10 tháng 8, 2016

BẬC THẦY VỀ VẼ QUẢNG CÁO Ở MIỀN NAM TRƯỚC NĂM 1975

      Năm 1975 như một nhát cắt làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt xã hội miền Nam, ví thể như người ta lật bàn tay. Những gì bên dưới bây giờ nổi phềnh lên bề mặt và ngược lại những gì lềnh bềnh bên trên từ trước đến giờ bị lật úp chìm vào bóng tối. Nói đây không phải là nhắc để phân biệt mà chỉ muốn nói đến những gì đình đám suốt vài thập kỷ nay bị chôn vùi không còn ai biết đến. Điển hình câu chuyện nghệ thuật trong mảng quảng cáo tiếp thị mà cố họa sĩ Phạm văn Quan cũng chỉ là một trong những, nhưng cũng không phải là cá biệt.
       Họa sĩ Phạm văn Quan (  ? - 1999 ). Chưa rõ ông xuất thân từ trường mỹ thuật nào. Đông Dương, Gia Định hay tự học? Chỉ có điều rõ ràng là tôi đã có dịp theo chân người bạn đến tư gia người con mua ít món thuộc di sản của ông mà những người trong gia đình không cần sử dụng nữa... Căn nhà lầu mang số: 535/23b. Đường Nguyễn tri Phương. Quận 10 tại Saigon là do ông tạo dựng và để lại cho các con sau khi ông qua đời vào năm 1999. Bản thân ông đã từng làm Trưởng ban quảng cáo cho hãng bia, nước ngọt B.G.I. (1)  Không rõ ông đã vào làm việc cho hãng từ năm nào. Càng không rõ khi hãng B.G.I ở vào những ngày tháng năm 1975 và năm 1977 khi bàn giao cho chủ mới, ông có còn được lưu dụng hay không nữa? Nhưng căn cứ vào một bản vẽ quảng cáo cho " Bia 33 de lux export " đã cũ kỹ, ngay dưới chữ ký tác giả có ghi năm 1953.

                Phạm văn Quan. Bia 33 de lux export. kích thước: 31cm x 37cm. Vẽ năm 1953.

     Nhờ vào bút tích này mà ta có thể đoán là ông đã làm việc cho hãng B.G.I  chí ít cũng phải từ năm 1953. Không biết đích xác về nhân thân cũng như quá trình hoạt động trong mảng nghệ thuật hội họa quảng cáo của ông vì thuộc lớp hậu sinh xa lạ. Nhưng có lẽ lớp người cùng thời, chung ngành nghề hẳn rất biết ông là ai! (2)  Tóm lại tôi chỉ biết tí chút về ông qua lời kể của người con khi đứng ra chủ trì cho việc mua bán. Do không quen trực tiếp mà phải qua trung gian người bạn hàng dẫn đến nên không tiện hỏi thăm chi tiết về nhân thân của cố họa sĩ, cho dù có gặp trực tiếp người con. Đó cũng là điều đáng tiếc do thiếu kinh nghiệm.
      Sau khi xem loạt tranh sơn dầu trên 100 bức đủ mọi kích thước chất khắp nhà. Với biệt nhãn về hạng mục tranh quảng cáo là tác phẩm nguyên gốc, nên tôi chỉ chọn mua toàn bộ lô tranh mẫu, bản gốc vẽ bằng màu nước do ông thực hiện cho hãng B.G.I cùng một số hãng rất nổi tiếng khác ở miền Nam trước ngày 30/4/1975, cùng hai món gia dụng bằng pha lê. Đĩa hiệu Etling, bình hoa hiệu Daum France. Có thể xem loạt tranh này là những sản phẩm vẽ bằng tay cuối của ngành quảng cáo ở Việt Nam còn sót lại với số lượng kha khá của một họa sĩ thuộc hàng trưởng bối trong lãnh vực quảng cáo mà tôi bắt gặp. Theo thiển nghĩ cũng là điều may mắn cho bản thân.(3) Thông thường khi họa sĩ vẽ xong ( có khi vài ba mẫu ) đem trình lên cơ quan chủ quản chọn và phê duyệt. Khi bản vẽ được chấp thuận. Nó được xem là bản mẫu gốc và được giao cho các họa sĩ phụ trách ở công trường dựa theo đó mà thực hiện cho đúng không được phép tự ý thay đổi. Thông thường những bản vẽ này được thực hiện trên giấy, nên khi đem ra sử dụng bị tác động bởi thời tiết lẫn con người lại mở ra cuộn vào để đối chiếu quá nhiều lần nên dẫn đến chuyện bị nhàu nát hư hỏng đến phải vất bỏ. Một lý do khác nữa là những mẫu đã qua sử dụng coi như không còn giá trị nên xếp vào hồ sơ lưu, cho đến một lúc nào đó cảm thấy không cần thiết nữa sẽ đem hủy. Do những lý do vừa kể trên nên các bản vẽ gốc trở nên rất hiếm hoi, khó kiếm.
        Trở lại loạt tranh mẫu của họa sĩ Phạm văn Quan hiện đang được bản thân lưu giữ. Với số lượng tương đối nhiều, chất lượng còn rất tốt, gần như 100%. Phải chăng do tính cẩn thận và sự quyết tâm lưu giữ đứa con tinh thần của họa sĩ nên mới còn được như vậy? (4) Cũng từ loạt tranh này, nó cho thấy cố họa sĩ Phạm văn Quan đã có sự cống hiến rất lớn lao và xuyên suốt một thời gian dài hơn 20 năm, không những chỉ cho hãng B.G.I mà còn một số hãng tên tuổi khác nữa. Nơi các bản vẽ do ông thiết kế luôn đẹp, mới lạ, màu sắc tươi nhuận rất bắt mắt. Có thể cho rằng chính những điều này đã giúp cho các sản phẩm của Hãng Bia nước ngọt B.G.I cùng một số thương hiệu lớn như: Bột giặt Viso, Pin con Ó, Bột ngọt Vị Hương Tố..v..v... trở nên quen thuộc, nổi đình đám khắp chốn ở miền Nam, thậm chí còn kéo dài thêm một thời gian sau năm 1975 nữa là vậy (5). Không rõ câu: " Sinh nghề, tử nghiệp " có vận vào các họa sĩ làm nghề vẽ quảng cáo không?  Khi mà mọi người chỉ nhìn thấy và để ý đến những hình ảnh màu sắc mượt mà, hấp dẫn của sản phẩm chứ có mấy ai để ý đến người tạo dựng ra nó! Chuyện càng trở nên nghiệt ngã hơn khi đất nước có sự đổi thay hoàn toàn cộng với sự phát triển quá nhanh của nền kỹ thuật in ấn về quảng cáo làm cho sự cống hiến âm thầm của giới họa sĩ chọn nghề quảng cáo làm lẽ sống đi vào ngõ cụt. Càng thêm thê thảm hơn cho những ai không có sự đổi thay kịp thời... Sự cáo chung của công việc quảng cáo thủ công trước cơn bão tiến hóa kỹ thuật quảng cáo thời @ là điều hiển nhiên chẳng còn gì để nói..... Nếu có chút gì thì đó là sự nhặt nhạnh những mẩu vật rơi rớt để nhớ lại thời đã qua... mà thôi!


                                           A - MỘT SỐ BẢN VẼ VỀ BIA "33".

                  Hai mẫu vẽ về bia 33 cho quảng cáo ngoài trời của họa sĩ Phạm văn Quan.

 

Qua ảnh cho thấy bản vẽ thứ nhì đã được cho thực hiện trên mành mành. Không rõ năm nào. Nhưng chắc chắn phải trước năm 1975.
Nguồn google. ( Hình ảnh VietNam.com ).


 


MỘT VÀI BẢN VẼ VỀ LA-VE CON CỌP. CỦA HỌA SĨ PHẠM VĂN QUAN.

 


Nhãn hiệu Biere Larue con cọp được thực hiện trên bìa lịch.



B - MỘT SỐ BẢN VẼ QUẢNG CÁO CHO NƯỚC NGỌT & XÁ XỊ.

Hai bản vẽ mẫu cho nhãn hiệu nước ngọt "top".



 


Hai bản vẽ cho nước ngọt nhãn hiệu "segi". Hình ảnh con ngựa có cánh được vẽ chi tiết khác nhau.

Hình ảnh con ngựa trên nhãn hiệu "segi" được thực hiện trên lịch có khác với hai mẫu trên. Có lẽ ông đã vẽ đến ba mẫu cho con ngựa...


 

 


 


C - MỘT VÀI BẢN VẼ QUẢNG CÁO CHO SIRO.

  


D - MỘT SỐ BẢN VẼ CÁC CÁC HÃNG SẢN XUẤT CHẤT TẨY RỬA.

 




 


D - CÁC HÃNG KHÁC.

 



E - MINH HỌA CHO BÌA NHẠC VÀ BÁO XUÂN.







BÁO XUÂN " NGÀY MỚI " NĂM 1960.










MỘT VÀI BẢN VẼ GỐC VỀ QUẢNG CÁO CỦA NHỮNG HỌA SĨ KHÁC.


VIỆT NAM CÔNG THƯƠNG NGÂN HÀNG.

Bản gốc. Màu nước trên giấy dày. HS. Nguyễn Chương.



NÔNG - CÔNG THƯƠNG NGÂN HÀNG.


Bản gốc. Màu nước trên giấy dày. HS. Nguyễn Chương.


HỌA SĨ MÕ VẼ CHO PHIM " NHÀ TÔI ".

Họa sĩ Mõ. Bản gốc. Mực nho trên giấy kiếng mờ. 

HỌA SĨ UYÊN HUY VẼ CHO GIẢI LỰC SĨ ĐẸP VIỆT NAM LẦN 1.  NĂM 1993. 


Uyên Huy ( Huỳnh văn Mười). Bản gốc. Mực nho trên giấy kiếng mờ .


PHỤ CHÚ.

(1) Người họa sĩ được chọn vào làm cho hãng B.G.I vào thời điểm này hẳn tay nghề phải vượt trội hơn mọi họa sĩ khác. Đó là điều chắc chắn và những gì của ông để lại cho thấy tài năng của ông rất đa dạng và phong phú...

(2) Có lần trò chuyện cùng họa sĩ Nguyễn Trung  còn gọi là Trung lớn do ông lớn tuổi. ( Trong giới họa sĩ họ gọi vậy để phân biệt với HS. Nguyễn Trung trong nhóm Hội họa sĩ Trẻ. Vì hai người đều mang tên Nguyễn Trung ). HS. Trung lớn cho biết HS. Phạm văn Quan là người giới thiệu cho ông vào học trường Mỹ Thuật Gia Định. 

(3)  Lý do. Với số bản có ký tên thì không nói. Một số không ký tên, nếu không mua chung cùng lúc chắc khó mà biết của ai. Một điều làm cho thế hệ đi sau muốn xác minh rất khó khăn... Cũng không thể trách các cụ được vì bản phác thảo không phải là tác phẩm nên các cụ thường không ký tên...Đôi khi vẽ xong chưa vừa ý cũng nên cũng không ký tên, những tác phẩm này đã dẫn đến chuyện tranh cãi trong giới sưu tập...

(4) Có thể do ông đảm trách chức vụ Trưởng Ban Quảng Cáo của B.G.I nên có đủ điều kiện để thu giữ và bảo quản những tác phẩm của mình...   

(5) Các thương hiệu còn tồn tai sau 30/4/1975 một số năm như:  Bia 33,  Pin Con Ó,  Bột giặt Viso, Bông Bạch Tuyết,  Bột ngọt Vị Hương Tố, Giấy Cogido...v..v...

Cauminhngoc
03/8/2016.

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2016

HỘI QUẢNG-TRỊ HUẾ HAY HỘI QUẢNG TRI. CÁI NÀO ĐÚNG?

     
       Lưu ý: Trước khi vào bài viết này chúng ta cần phải định vị lại cho rõ ràng là quyển Văn Họa Kiều được xuất bản vào thời điểm năm 1942, bởi chính các nhà học thuật lẫy lừng của đất nước ở vào giai đoạn văn học nghệ thuật đang trên đà phát triển. Chúng ta cũng cần phải hiểu thế hệ này rất nghiêm cẩn, luôn tuân thủ những khuôn mẫu về văn học hay ngữ pháp đã được đặt ra chứ không phải muốn làm gì cũng được bất tuân quy định. Nhất là những nhà học thuật đã có tên tuổi, họ lại càng cẩn thận và nghiêm túc hơn trong công việc mang đặc tính về văn tự...

 

       Trong cuộc triển lãm kỷ niệm 250 ngày sinh của thi hào Nguyễn Du vào cuối năm 2015 tại TP, HCM, có nhắc đến quyển " Tập Văn Họa Kỷ Niệm Nguyễn Du ". Chính quyển này ở phần cuối, nơi khung ghi lý lịch quyển sách đã bị cho là có lỗi morasse ở cụm từ " Hội Quảng-Trị Huế ".


                                                                  Trang bìa Tập Văn Họa....


                                     Hai trang trong cận bìa trước Tập Văn Họa...


                               Hai trang trong chữ quốc ngữ của Tập Văn Họa...



                            Hai trang có phần chữ Hán-Nôm trong Tập Văn Họa...



                  Khung lý lịch cuối sách có cụm từ " Hội Quảng-Trị Huế " bị cho là sai...




     Lập luận của ông Lam Điền đăng trên báo Tuổi Trẻ Online:


SỔ TAY:     Báo Tuổi Trẻ online
26/11/2015 20:29 GMT+7

-        TTO - Khi thông tin về Tuần lễ triển lãm kỷ niệm 250 năm ngày sinh thi hào Nguyễn    
     
      Du tại TP.HCM loan trên các báo, có một chi tiết bị viết sai ở nhiều báo, là “Hội Quảng Trị - 

     Huế”, thay vì viết đúng phải là Hội Quảng Tri (không có dấu nặng).



     Khung ghi niên đại trên Tập văn họa kỷ niệm Nguyễn Du với lỗi morasse “Hội Quảng Trị - 

         Huế” thay vì viết đúng phải là Hội Quảng Tri (không có dấu nặng) - Ảnh: L.Điền



           Cái sai này bắt nguồn từ một ý định tốt đẹp, đó là quảng bá quyển sách Tập Văn họa kỷ niệm Nguyễn Du (sau đây gọi tắt là Tập văn họa), do Hội Quảng Tri thực hiện vào năm 1942.
-          Điều ít ai ngờ tới là một quyển sách “hoành tráng về nhiều mặt” như thế, mà lại mắc lỗi morasse khi in ấn.
-          Quái lạ hơn, cùng một lỗi bị mắc ở hai chỗ: đầu sách trong mục giới thiệu đơn vị xuất bản ghi rõ ràng “Hội Quảng Trị”, nơi cuối sách trong khung ghi chú niên đại cũng ghi rõ “Sách Nguyễn Du Văn họa tập do Hội Quảng-Trị Huế xuất bản, do nhà in Ngày Nay, 80 đường Quan Thánh, Hà Nội, in xong ngày 10 Septembre 1942”. Đây chính là chỗ mà các báo vừa rồi khi đưa tin đã chép lại đúng “nguyên văn” từ tập sách. Có lẽ, ban tổ chức hoặc người cung cấp thông tin đã không lưu ý đến cái dấu nặng nhỏ nhoi ấy để cải chính chỗ sai này, nên các báo cứ thế chép theo bản chụp trang sách, và… sai theo.
-               Một hội bề thế như vậy, đảm đương việc xuất bản một quyển sách quan trọng như vậy, với ban biên tập gồm các tên tuổi như Đào Duy Anh, Đào Đăng Vỹ, Hoài Thanh, Tôn Quang Phiệt, Phan Văn Dật… mà lại để xảy ra cái lỗi morasse bé cỏn con khiến cho đời sau chép sai loạn cả lên, quả là cái dấu nặng ấy không hề nhẹ vậy.

Muốn đọc nguyên bản xin vào trang.  Quảng Tri - Quảng Trị: Cái dấu nặng không… nhẹ
                                                                               ( Nguồn báo Tuổi Trẻ Online)


Trích từ báo Thanh Niên ra ngày 05/08/2016. đưa tin:

Bảo tồn hay dỡ bỏ dấu tích Hội Quảng Tri?
05:16 AM - 05/08/2016 Thanh Niên

Nhiều ý kiến cho rằng nên bảo tồn theo hướng phát triển, không di dời trụ sở UBND P.Phú Hòa.


            Hình ảnh phường Phú Hòa hiện nay vốn là trụ sở của Hội Quảng-Trị Huế ngày xưa.

     
Bên trên là lập luận của ông Lam Điền trên báo Tuổi Trẻ và tin trên báo Thanh Niên. Cả hai đều dùng cụm từ " Hội Quảng Tri ".


      Thử tìm hiểu đôi chút về cách sử dụng cái gạch nối trong cách dùng từ.
      Cách dùng cái gạch nối giữa những chữ  theo quan điểm trước 1975.
“ Cuối thế kỷ 19, thời chữ Quốc Ngữ mới được hình thành. ông Trương Vĩnh Ký đã viết “Để tránh lẫn lộn từ đơn và từ đôi, từ kép, chúng tôi đã chấp nhận, trong các từ điển, văn phạm và các ấn bản khác của chúng tôi, dùng gạch nối để xác định từ kép và ghép đôi một số mẫu âm làm cho âm cuối dễ nghe như líu-lo, dăng dẳng”.Sau này, dựa trên các ấn phẩm xuất bản trước năm 1975, các tác giả vẫn còn dùng dấu gạch nối đối với từ ghép “.
Nó được sử dụng trong một số trường hợp như:
+ Nhân Danh (tên tục, tên Hiệu ): Lợi-Ký, Đức-Thành,Trần-Phong-Thái, Bảo-Thịnh, Đức-Phú, Ng-V-Hảo,…
+ Địa danh, nơi chốn: Việt-Nam, Sài-Gòn, Đà-Lạt, Thuận-An-Đường, Hồi-Sanh-Đường, Hiển-Khánh,…
+ Tính từ đặc biệt: Thế-Hệ, Hạnh-Phúc, Hưng-Thịnh, Chánh-Nghĩa, Phát-Tài,…
                                                         (Nguồn trên FB của LƯU CHỮ- The lost Type Vietnam);

Dựa theo nội dung ý nghĩa về cái gạch nối được nêu trên. Dưới đây là  hai văn bản cụ thể có những cụm từ có sử dụng cái gạch nối:
      1/  Trong phần cuối cuốn sách “ Nguyễn Du văn họa tập ”. 
A - Nơi phần cuối. Có một trang in nội dung chi tiết về lý lịch xuất bản cho mỗi quyển sách.




    Theo như khung này. Hai cụm từ có gạch nối là: hai chữ Quảng - Trị ( Có dấu nặng ) và Hà – Nội.
Như vậy hai cụm có gạch nối đó đã chứng minh cho mục đích dùng để chỉ về địa danh. Tỉnh Quảng – Trị và thủ đô Hà – Nội.

         B - Nơi trang 05 của Tập Văn Họa... Trong khung lên danh sách các hội ủng hộ và những nhân sự đóng góp công sức để hình thành quyển sách nơi giòng đầu tiên cũng ghi Hội Quảng-Trị (có dấu nặng và gạch nối). Và một sỗ cum từ sử dụng cái gạch nối: Khai-Trí Tiến-Đức; Khuyến-Học; Trí-Tri

                                
Với ghi chú ở trong khung. Đã cho thấy quyển sách được giới trí thức cùng văn nghệ sĩ thời đó quan tâm như thế nào...
                               
         Trong khung giòng đầu tiên. Mặc dù không có chữ Huế đằng sau nhưng cũng đã ghi rõ ràng là: Hội Quảng-Trị. Có gạch nối và dấu nặng rất rõ. Không phải là Quảng Tri. 



      Xuất bản: Hội Quảng - Trị. Như vậy trong quyển Tập Văn họa kỷ niệm Nguyễn Du ... có hai chỗ có dùng cụm từ: " Hội Quảng-Trị ". Một ở trang 05 và một ở trang ghi phần lý lịch nằm nơi cuối sách. Có khác ở phần cuối sách trong khung về lý lịch cuốn sách có thêm chữ Huế sau chữ Quảng-Trị... Xét kỹ đã cho thấy hai chữ Quảng-Trị đều có gạch nối và dấu nặng. (Ông Lam Điền cho là lỗi morasse).


2/  Nơi bản dự thảo tập chương trình quảng cáo cho buổi diễn vở kịch “GHEN” của Đoàn phú Tứ vào năm 1944, được Bùi Xuân Các thực hiện bằng lối viết tay  Cũng ghi rõ hội Quảng-Trị Huế. 


 Quảng - Trị Huế. Bản viết tay cho thấy có nét gạch nối đứng giữa hai chữ Quảng–Trị và chữ Trị có dấu nặng rất rõ ràng. Một chứng cứ xác thực bằng văn bản của người sồng cùng thời (1944) để lại chứ không phải do lập luận vu vơ, gán ghép...


          Trang giới thiệu tên những người vào các vai và nhân vật trong vở kịch. Mở màn lúc 21 giờ.


Trang bìa của tập chương trình vở kịch " Ghen " có ghi diễn tại " Hội Quảng-Trị Huế ". Tối 10 Juin 1944. Một chứng cứ bằng văn bản của người xưa viết vào năm 1944.  


     Nhìn vào hai văn bản. Một viết tay của Bùi xuân Các và một in nằm trong phần lý lịch cuốn sách cho thấy sự nhất quán của người  xưa  trong  việc dùng gạch nối để xác định cụm từ chỉ về địa danh của hai chữ Quảng – Trị và thường kèm theo chữ Huế đi sau để trở thành cụm từ đầy đủ " Hội Quảng-Trị Huế ".
    Cũng nên nhớ cho đây là văn bản và cách sử dụng từ của những người đang làm việc ở vào ngay thời điểm họ đang sinh sống. Bởi vậy khi sử dụng chắc chắn là phải cẩn trọng đúng theo nhu cầu và ý muốn của họ. Nhất lại là các vị có tên tuổi trong văn đàn đứng ra đảm trách in một quyển sách có tầm vóc quan trọng để kỷ niệm một nhà thơ lớn như thi hào Nguyễn Du, nên tính cẩn trọng vốn có của người xưa khiến họ lại càng không thể xem thường khi được giao trọng trách duyệt bản thảo. Thực tế “ Tập văn họa kỷ niệm Nguyễn Du ” vỏn vẹn chỉ có 26 tờ vị chi là 52 trang thuần túy chữ Việt và Hán Nôm  ( Không tính 11 tờ phần tranh minh họa ) thì chuyện sai là hơi khó xảy ra. Nếu cho là có sự sơ xuất trong lúc kiểm duyệt bản morasse đi chăng nữa. Khi duyệt bản in thử nếu thấy có sai sót thì chuyện in tờ đính chính hẳn là phải có. Theo sự nắm bắt chủ quan thực tế của bản thân khi đã ba lần cầm trong tay ba ấn bản quyển Tập Văn họa kỷ niệm Nguyễn Du này. Chưa hề thấy có kèm theo tờ " ĐÍNH CHÍNH " nào cả. Điều này có đủ để minh chứng cho chuyện quyển sách không có gì sai sót cần phải đính chính không? Kể cả các bài in bằng chữ Hán, phần rất dễ bị sai sót. Nếu như ta cứ nhất nhất cho rằng cả Ban biên tập quyển sách làm việc cẩu thả.  Vậy chẳng lẽ bản viết tay của Bùi xuân Các trong bản thảo tập chương trình cho buổi diễn kịch “ Ghen ” của Đoàn phú Tứ chưa quá năm tờ viết tay cũng sai lỗi chính tả sao?
     Một điểm cần lưu ý. Trong văn bản người xưa viết rõ ràng là :  Hội Quảng – Trị Huế. Giữa hai chữ Quảng –Trị luôn có gạch nối và có chữ Huế sau cùng. Và đây cũng là danh xưng chính thức của hội đoàn nên không thể có chuyện viết sai hoặc nhầm lẫn dẫn đến việc hiểu sai lệch ý nghĩa của cụm từ đã được chọn dùng làm tên gọi biểu tượng cho hội. Mặc dù đôi khi chỉ có cụm từ. " Hội Quảng-Trị "  không có chữ Huế. Nhưng chữ vẫn ghi rõ là: " HỘI QUẢNG-TRỊ ". 
      Nếu như cứ dựa theo lời ông Lam Điền phải là " Quảng Tri" mới đúng. Câu hỏi được đặt ra là: Chẳng lẽ các vị trong Ban Tổ Chức và những nhân sự trong hội hàng bao nhiêu người lại không rõ tên hội đoàn của mình được đọc viết và dùng như thế nào sao?  Với các nhân vật như ông Lam Điền nêu ra gồm: Đào Duy Anh, Đào Đăng Vỹ, Hoài Thanh, Tôn Quang Phiệt, Phan Văn Dật…cùng nhà xuất bản Ngày Nay. Một thành phần nhân sự và nhà xuất bản có tên tuổi như vậy lại không đính chính khi có lỗi morasse trong một quyển sách quan trọng như thế và:
  * Nếu như chỉ viết: Hội Quảng Tri thì còn đúng với ý người xưa không? 
  * Nếu khẳng định là Hội Quảng Tri là đúng. Vậy cái gạch nối rất rõ ràng giữa hai chữ Quảng-Trị vì lý do gì mà bỏ đi để trở thành Quảng Tri?
 * Nếu thêm chữ Huế vào thành cụm từ " Hội Quảng Tri Huế " (Không có dấu nặng và cái gạch nối). Ý nghĩa nó có sai biệt thế nào với cụm từ " Hội Quảng-Trị Huế "? ( Có dấu nặng và cái gạch nối ).
   * Nếu hiểu theo ý nghĩa. Hội Quảng-Trị Huế (viết đúng như văn bản của người xưa) là do nhóm người làm công việc văn hóa ở hai Tỉnh Quảng – Trị và Huế đứng ra thành lập hội có trụ sở trên đất Huế. Có gì là không phải? Cớ sao cứ phải là Quảng Tri mới được.
    * Từ khi thành lập Hội Quảng-Trị Huế và năm 1942 khi xuất bản quyển." Tập Văn họa kỷ niệm Nguyễn Du ." cho đến ngày nay ( Năm 2016. Trước khi có bài của ông Lam Điền ) chưa thấy có ai trong giới văn học xưa cũng như nay phản ứng về cụm từ của " Hội Quảng-Trị Huế " là sai. ( Nhắc lại cho rõ. Bản thủ bút của Bùi xuân Các viết năm 1944 cũng ghi rõ là " Hội Quảng-Trị Huế " ).
    * Khi quyển sách in xong chắc chắn sẽ có chuyện duyệt lại lần cuối trước khi phát hành. Nếu có sai sót vì lỗi morasse thì chuyện cho in thêm tờ đính chính kèm theo sách hẳn là không khó. Và cũng chưa phát hiện có tờ đính chính nào kèm theo quyển Tập Văn Họa kỷ niệm Nguyễn Du này. Chứng tỏ không có chuyện ở lỗi morasse. ( Nhắc lại ). Và cứ cho là có tờ đính chính nhưng bị thất lạc. Vậy bản viết tay của ông Bùi xuân Các cũng bị viết sai sao?

     * Một mấu chốt rất quan trọng cần đặc biệt lưu ý. Buổi diễn vở kịch GHEN đươc thông báo rộng rãi là sẽ diễn tại địa điểm nổi tiếng ở Huế khi đó là: Hội Quảng-Trị Huế. Một địa chỉ quan trọng chỉ nơi chốn để mọi người đến xem. Thử hỏi ông Bùi xuân Các có dám viết sai không? Nếu nó là Hội Quảng Tri? 
    * Phải chăng Hội Quảng-Tri Huế là một hội quán có tru sở lớn và cho thuê mặt bằng. (Bằng chứng là vở kịch Ghen được điên ở nơi này. Xem vị trí hiện tại là UBND phường Phú Hòa ở phần minh họa bên trên). 
   * Cũng chưa hề thấy một hoạt động về quảng bá tri thức nào lấy tên Hội Quảng Tri xuất hiện trên văn đàn trong toàn quốc trước năm 1975. 
       Và nếu quý vị khẳng định Quảng Tri mới đúng thì xin hãy trưng ra chứng cớ cụ thể. Bằng văn bản hay hình ảnh để cho mọi người thông suốt, cũng để tránh chuyện chỉ có suy luận suông hoặc nói vu vơ, chả đáp ứng được điều gì. Người viết sợ nhất là câu: "Tôi nghe nói vậy" hay "Tôi nghĩ là vậy!".
 
     Theo ý kiến chủ quan của tôi. Các vị chủ biên quyển  Tập Văn họa kỷ niệm Nguyễn Du đã làm đúng chức năng của mình không sai sót. Bởi vì trong quyển sách Kỷ niệm văn họa Kiều in năm 1942. Đã có đến hai chỗ dùng từ "Quảng-Trị" mà không thấy có in tờ đính chính (1) để chỉnh sửa và bản viết tay của Bùi xuân Các viết năm 1944. Cũng dùng cụm từ " Quảng-Trị".
      Chuyện phê phán, nhận định của chúng ta ngày nay chỉ là sự suy diễn chủ quan của người hậu sinh không phải là ý của các cụ ngày xưa… Như vậy có nên áp đặt suy nghĩ của người ngày nay để cho rằng người xưa đúng-sai chăng? Trong đó có bài viết này.
    
     Tóm lại. Bài viết này cũng chỉ mới đưa ra vài dữ liệu. Chưa thể đoan chắc đúng hoàn toàn... Chuyện này rất cần phải có sự góp ý của các nhà sử học minh định lại cụm từ " Hội Quảng-Trị Huế " để cho người sau không dùng sai, hiểu lệch nguồn gốc. Rất mong được chỉ giáo của các vị học giả. 
     Rất mong ông Lam Điền thứ lỗi vì đã không liên hệ trao đổi trước với ông khi viết bài này...


Cauminhngoc
07/8/2016

(1). Tờ đính chính trong quyển "Cổ văn Trung Quốc của Nguyễn hiến Lê" được dán ở phía sau cùng của quyển sách. Thông thường khi phát hiện ra lỗi chính tả hay viết sai chữ sau khi in ấn. Tác giả dùng phần đính chính để điều chỉnh lại cho đúng.