Giới thiệu quyển cổ thi:
“QUẢNG XUYÊN THI TẬP”.
Tác giả: Đặng Hữu Phổ (1854-1885).
Bản viết tay. Mực nho trên giấy dó.
Kích thước: 12.5cm x 25cm.
Gồm 81 tờ giấy dó gấp đôi theo lối cổ.
Niên đại: Đinh Sửu (1877).
Hiện vật đang được Cauminhngoc lưu giữ.
I - MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHỤP TỪ QUYỂN "QUẢNG XUYÊN THI TẬP".
1 - Bài thơ mở đầu (Không có tiêu đề riêng)
Phiên âm:
紅塵一騎故園來,
數顆香膚手自開。
知子詩脾令正渴,
分嘗聊當助清醖。
Hồng trần nhất kỵ cố viên lai,
Số khỏa hương phu thủ tự khai.
Tri tử thi tì linh chính khát,
Phân thưởng liêu đương trợ thanh uẩn.
Dịch nghĩa:
Một cỗ ngựa vượt bụi hồng trần từ vườn xưa tới,Mấy quả [vải/trái cây] vỏ thơm tự tay bóc ra.
Biết tì vị thơ của anh phương này đang khát,
Chia nhau nếm chút ít gọi là để trợ giúp cho bầu rượu thanh tao.
2. Lời đề từ trước bài thơ tiếp theo:
月夜天姥寺登高呈一二詩友 (Nguyệt dạ Thiên Mụ tự đăng cao trình nhất nhị thi hữu)
Dịch nghĩa: Đêm trăng lên cao ở chùa Thiên Mụ, kính dâng một hai bạn thơ.
3. Bài thơ thứ hai (Dưới lời đề từ)
Phiên âm:
準擬聞鐘訪釋流,
登臨佳客得清遊。
石關直躡雲生足,
銀漢橫觀月到頭。
萬疊山光杯底合,
千重烟色筆端收。
唫壺擊碎歌聲遠,
仗火松風夜氣秋。
Chuẩn nghĩ văn chung phỏng thích lưu,
Đăng lâm giai khách đắc thanh du.
Thạch quan trực niếp vân sinh túc,
Ngân hán hoành quan nguyệt đáo đầu.
Vạn điệp sơn quang bôi để hợp,
Thiên trùng yên sắc bút đoan thu.
Ngâm hồ kích toái ca thanh viễn,
Trượng hỏa tùng phong dạ khí thu.
Dịch nghĩa:
Định sẵn nghe tiếng chuông để đi thăm bậc tăng ni,
Khách quý bước lên nơi cao có được chuyến dạo chơi thanh nhã.
Cửa đá thẳng bước chân như giẫm lên mây sinh ra,
Dải Ngân Hà nằm ngang, nhìn lên vầng trăng đã ở ngay trên đầu.
Muôn lớp ánh sáng của núi non thu hợp lại nơi đáy chén,
Ngàn trùng sắc khói sương được thu gọn lại nơi đầu ngọn bút.
Chiếc hũ ngâm thơ gõ vỡ, tiếng ca bay xa,
Nương ánh đuốc lửa dạo giữa gió thông, khí đêm đã nhuốm vẻ thu.
4. Bài thơ thứ ba
Tiêu đề: 登天姥寺口占 (Đăng Thiên Mụ tự khẩu chiếm) -
Dịch nghĩa: Lên chùa Thiên Mụ, tình cờ ứng tác làm thơ.
Phiên âm:
久愛名山景趣繁,
參禪月夜到空門。
蓮花世界超塵表,
歷歷星辰祇掌捫。
Cửu ái danh sơn cảnh thú phồn,
Tham thiền nguyệt dạ đáo không môn.
Liên hoa thế giới siêu trần biểu,
Lịch lịch tinh thần chỉ chưởng môn.
Dịch nghĩa:
Vốn từ lâu đã yêu thích cảnh trí phong phú của ngọn núi danh
tiếng này,
Vào đêm trăng tìm đến cửa thiền (cửa Không) để học đạo tham thiền.
Thế giới hoa sen này vượt hẳn lên trên cõi trần tục,
Các vì sao hiện ra rõ mồn một, tưởng như có thể dùng lòng bàn tay để sờ, nắm lấy
được.
5. Lời dẫn cho phần tiếp theo (Ở góc trái bên dưới)
Phiên âm: 月夜天姥寺登高同廕生平卲、蔡伯琪、匋平陵、阮朢、歐聯白三首。
(Nguyệt dạ Thiên Mụ tự đăng cao đồng ấm sinh Bình Thạnh, Thái Bác Kỳ, Đào Bình Lăng, Nguyễn Vọng, Âu Liên Bạch tam thủ.)
Dịch nghĩa: Ba bài thơ lúc đêm trăng lên cao ở chùa Thiên Mụ, cùng làm với các ấm sinh [họ tên]: Bình Thạnh, Thái Bác Kỳ, Đào Bình Lăng, Nguyễn Vọng, Âu Liên Bạch.III - XÉT HIỆN VẬT.
Ngay từ những trang đầu tập cổ thi này không thấy ghi tên tác giả cũng như đề từ
cùng niên đại như thường thấy ở các loại sách Hán-Nôm cổ. Tổng thể tập thơ có
81 tờ giấy dó gấp đôi. Toàn bộ chữ viết được thể hiện trên hai mặt giấy theo lối
chữ Khải rất rõ ràng và đẹp. Thứ tự từ đầu đến cuối được sắp xếp làm 5 phần như
sau:
Phần 1 – Từ
tờ số 01 đến tờ 16. (16 tờ đôi). Đến mãi dòng cuối cùng ở tờ số 16 mới có ghi
“Quảng Xuyên thi tập. Quyển Ngũ” và không thấy có bổ chú thêm gì khác. Như vậy
từ tờ số 1 cho đến tờ 16 thuộc quyển Ngũ. Đây cũng được
xem là phần đầu sách ghi chép các bài thơ viết theo các thể: Thất ngôn tứ tuyệt,
Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Trong số đó có chép một số câu của các
thi hữu (có phụ chú tên họ từng người) đã xướng họa cùng ông Đặng Hữu Phổ.
Phần 2 – Từ
tờ số 17 đến tờ 32. (16 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải tờ số 17. Ghi “Quảng
Xuyên thi tập. Quyển Lục”. Đồng thời có ghi bổ sung
thêm niên đại Đinh Sửu (1877). Dòng thứ nhì có ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ.
Nội dung phần thứ này cũng gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất
ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát cú.
Phần 3 – Từ
tờ số 33 đến tờ 50. (18 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải
tờ số 33. Có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Thất” và niên đại Đinh Sửu (1877). Dòng thứ nhì ghi tên Đặng Hữu Phổ. Phần
thứ ba này cũng gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát
cú và Ngũ ngôn bát cú. Nhưng đặc biệt ở các tờ mang số 42 đến tờ 46, 49b và tờ
số 50 là những đồ hình phức tạp có lộng chữ bên trong.
Phần 4 – Từ
tờ số 51 đến tờ 67. (17 tờ đôi). Dòng đầu tiên bên phải
tờ 51, có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Bát” và niên đại Đinh Sửu (1877).
Dòng thứ nhì ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ. Phần
thứ tư này cũng bao gồm những bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn
bát cú và Ngũ ngôn bát cú. Đặc biệt từ tờ 61b đến tờ 65 và 67b là những đồ hình
có lộng chữ bên trong.
Phần 5 – Từ
tờ số 68 đến tờ 81. (14 tờ đôi). Dòng đầu
tiên bên phải tờ 51, có ghi “Quảng Xuyên thi tập. Quyển Cửu” và niên đại Đinh Sửu
(1877). Dòng thứ nhì ghi tên tác giả là Đặng Hữu Phổ. Phần cuối này cũng bao gồm
một số bài thơ ở các thể: Thất ngôn tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú và Ngũ ngôn bát
cú. Đặc biệt từ tờ 77b đến tờ 81 là những đồ hình có lộng chữ bên trong.
LƯU Ý:
·
Ở “Phần 1” mãi đến dòng cuối cùng mới thấy ghi
tên và ký số tập thơ: “Quảng Xuyên thi tập. Quyển 5”. Số còn lại từ “Phần 2”
cho đến “Phần 5” đều có có ghi thêm năm Đinh Sửu (1877) và tên tác giả Đặng Hữu
Phổ. Như vậy! tập thơ này hầu hết được viết vào năm Đinh Sửu (1877), khi đó ông
Đặng Hữu Phổ mới 23 tuổi.
·
Một điều rất thú vị là vào ngay năm sau là năm Mậu
Dần (1878), ông đã thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần khi mới 24 tuổi, sau đó ông bước vào
con đường quan lộ và được bổ nhiệm giữ chức Thị độc Học sĩ Hàn lâm viện.
·
Dựa vào dòng cuối tờ 16 có ghi “Quảng Xuyên thi
tập, quyển Ngũ”. Như vậy trước quyển Ngũ còn 4 quyển nữa (Nhất; Nhị; Tam và Tứ).
Phải chăng tập thơ “Quảng Xuyên thi tập” của ngài Đặng Hữu Phổ này có hai Tập? Và hiện vật này là Tập thứ Nhì! Nếu như vậy Tập thứ Nhất này có hiện hữu hay không? nội dung của Tập thứ Nhất chứa đựng
những gì? Nếu có thì bị thất lạc khi nào?
·
Cũng chưa rõ đây có phải là thủ bút của ngài Đặng
Hữu Phổ không hay do ai đó chép lại... Nếu tập cổ thi "Quảng Xuyên Thi Tập" này được cho là chép lại thì người chép lại đã dựa vào nguồn ở đâu và đã thực hiện vào thời điểm nào? Một nghi vấn cần được giải mã để trả cho hiện
vật về đúng vị trí của nó!?
·
Theo chủ quan của người viết thì rất có thể đây là
thủ bút của ông Đặng Hữu Phổ vì theo cách trình bày cực kỳ công phu và tỷ mỉ,
không dấu vết tẩy xóa hay bại bút trong suốt quá trình viết trên 160 trang giấy,
điều này chứng tỏ người thể hiện phải là người có ý chí rất vững vàng, giỏi về thư pháp cũng
như độ uyên bác về Nho học mới thể hiện được như vậy! Và chuyện này chỉ là tác
giả mới có dày công chăm chút đến như vậy mà thôi!
·
Cho dù có đúng là thủ bút của ngài Đặng Hữu Phổ
hay không thì đây vẫn là quyển cổ thư (1877) viết tay thuộc dạng cực kỳ quý hiếm
và độc lạ tại Việt Nam. Điểm đặc biệt nhất của tập thơ này không chỉ nằm ở giá
trị văn chương chữ Nho, mà nằm ở nghệ thuật tổ chức bố cục thư pháp và thể loại
Thơ Vòng (Tuyền cơ thi / Vũ khúc thi) – một đỉnh cao của lối chơi chiết tự và sắp
đặt văn tự độc đáo của người xưa, đòi hỏi bộ óc cực kỳ uyên bác của người sáng
tác lẫn cách thể hiện biểu đồ phức tạp trên mặt giấy và dựa vào niên đại 1877
ghi trong sách thì tác giả Đặng Hữu Phổ sáng tác tập thơ “Quảng Xuyên thi tập”
này khi ông mới 23 tuổi.
IV - TIỂU SỬ TÁC GIẢ THEO NGUỒN MỞ:
- Tác
giả: Chính là Đặng Hữu Phổ (1854 – 1885), nhân vật lịch sử thời
nhà Nguyễn tham gia phong trào Cần Vương.
- Thân
thế: Ông sinh ra trong một gia đình đại trí thức đại quý tộc. Cha ông
là Phò mã Đặng Huy Cát, mẹ ông là hoàng nữ Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (nhà thơ nữ
nổi tiếng thời Nguyễn, con gái vua Minh Mạng). Sống trong môi trường văn
chương từ nhỏ nên Đặng Hữu Phổ có tài làm thơ rất hay từ sớm. Tập thơ Quảng
Xuyên thi tập là một trong những di sản văn học Hán Nôm quý giá còn
lưu lại của ông trước khi ông hy sinh anh dũng vì đại cuộc chống Pháp.
A - Google
AI:
Thân thế
- Sinh
năm: Ngày 19/01/1854 (29 tháng 9 năm Giáp Dần) tại làng Bác Vọng, nay
thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Gia
thế: Ông là con trai trưởng của Phò mã Đô úy Đặng Huy Cát và Công chúa
Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (tức nữ sĩ Huệ Phố, con gái vua Minh Mạng). Ông mang
dòng máu hoàng tộc nhưng sớm nung nấu tinh thần yêu nước thương dân.
- Học
tập: Năm 24 tuổi (1878), ông thi đỗ Cử nhân
khoa Mậu Dần, sau đó bước vào con đường làm quan và được bổ nhiệm giữ chức
Thị độc Học sĩ Hàn lâm viện (thường gọi là cụ Thị Độc).
Sự nghiệp và tinh thần kháng chiến
- Tham
gia phái chủ chiến: Khi phong trào Cần Vương bùng nổ dưới sự lãnh đạo
của Tôn Thất Thuyết và vua Hàm Nghi, Đặng Hữu Phổ cùng cha hăng hái tham
gia phái chủ chiến. Ông được giao trọng trách làm Hiệu úy, trực tiếp chiêu
mộ và chỉ huy đội quân nghĩa dũng mang tên Đoàn Kiệt để chuẩn bị cơ
sở kháng chiến.
- Trận
đánh huyện nha Quảng Điền: Đêm mùng 4 rạng sáng ngày 05/07/1885, trong
lúc Tôn Thất Thuyết tập kích đồn Mang Cá và tòa Khâm sứ Pháp ở kinh thành
Huế, cha con Đặng Hữu Phổ đã lãnh đạo đội Đoàn Kiệt bất ngờ tấn công vào
huyện nha Quảng Điền (đóng tại Hạ Lang).
- Hi
sinh vì nước: Cuộc tấn công không thành do thế giặc mạnh và kinh đô thất
thủ. Hai cha con ông bị bắt giam. Dù bị quân Pháp tra tấn dã man và triều
đình tay sai Đồng Khánh dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, tra hỏi, ông vẫn giữ vững
khí tiết trung kiên, nhận hết trách nhiệm về mình và kiên quyết không khuất
phục.
- Ông bị
tòa án của phái thân Pháp tại nhà Thương Bạc kết án tử hình và bị xử tử
vào ngày 29/08/1885 (20 tháng 7 năm Ất Dậu) tại bến đò Quai Vạc (làng Bác
Vọng, Quảng Điền), hiên ngang để lại thơ tuyệt mệnh trước khi lẫm liệt hy
sinh ở tuổi 31.
- Khu vực
lăng mộ, nhà thờ và miếu thờ của ông (Miếu Thị Độc) tại Quảng Điền, Thừa
Thiên Huế đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia, là nơi
ghi tạc tấm gương trung hiếu, vì nước quên thân của ông
B - Thông tin từ (Wikipedia)
- Sau
khi bị hành hình, thi thể Đặng Hữu Phổ được dân làng an táng ở tại Cồn
Căng (cạnh mộ mẹ ông), thuộc làng Bác Vọng (xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền). Mộ ông hình tròn, cao
khoảng 0,5m,
hình thức kết cấu đơn giản, có vòng thành nhỏ bao bọc. Sau đó, cảm phục
trước khí tiết của ông, dân làng còn lập miếu thờ ngay tại nơi ông mất (Bến
đò Quai Vạc) gọi là "Thị độc miếu" (miếu của quan Thị độc)
cách lăng mộ khoảng 1km về phía tây, và hằng năm đều có tổ chức lễ cúng tế. Khu mộ và miếu thờ Đặng
Hữu Phổ đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng "di tích cấp Quốc
gia" theo Quyết định số: 52/2001/QĐ/BVHTT, ký ngày 28 tháng 12 năm 2001.
- Ghi nhận
công lao và khí tiết của ông, ở quận 2, Tp. Hồ chí Minh, hiện có con đường mang tên Đặng Hữu Phổ.
- Vợ ông là Tôn Nữ Thị Hiệp, người hoàng tộc.
Đặng Hữu Phổ sinh ngày 29 tháng 9 năm Giáp Dần,
dưới triều Tự Đức (tức
ngày 19 tháng 01 năm 1854) tại làng Bác Vọng
(nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền tỉnh Thừa Thiên-Huế).
Ông là con trai trưởng trong 4 người con của Phò mã Đặng
Huy Cát và Công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (tức nữ sĩ Huệ
Phố).
Năm 24 tuổi, Đặng Hữu Phổ thi đỗ Cử nhân khoa Mậu Dần (1878) làm quan đến
chức Thị độc Nội các.
Khi phái chủ chiến ở Huế tích
cự chuẩn bị lực lượng và cơ sở vật chất đế quyết chiến với thực dân Pháp, cha con Đặng Hữu Phổ được đại thần Tôn Thất Thuyết giao cho nhiệm vụ chiêu mộ
nghĩa sĩ ở ngoại thành Huế lập đội quân Đoàn kiệt, đồng thời đến Tân Sở (Cam Lộ, Quảng Trị) lập hậu cứ, để có chỗ kháng chiến lâu dài.
Đêm 4, sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, khi Tôn Thất Thuyết
đang chỉ huy cuộc tập kích quân Pháp ở Huế,
thì cha con ông cũng lãnh đạo đội Đoàn kiệt đánh vào huyện nha Quảng Điền (Huế). Cuộc đánh chiếm thất bại,
hai cha con ông đều bị bắt.
Sau đó, triều đình Đồng Khánh và Thực dân Pháp cố dụ hàng cha con ông để
lung lạc sĩ phu và nhân dân, nhưng không được. Cuối cùng, họ đem cha con ông ra
xử: Đặng Huy Cát bị án trảm giam hậu, còn Đặng Hữu Phổ bị án xử tử. Ngoài ra, họ
còn sai người đến đốt nhà của cha con ông, khiến kho sách "Đặng gia tàng
thư" bị cháy rụi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét