Hiển thị các bài đăng có nhãn THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).

 THẬP DỰC PHẠM TĂNG (十翼范曾).

QUA TRANH ĐỒ HỌA CÓ TÔ MÀU TAY.


Bài viết có tham khảo từ nguồn: Google AI và nhà nghiên cứu Hán Nôm Lê Anh Minh.


    Đây là bài viết của người rất yêu thích những miêu pháp mô tả sự vật cùng nếp áo trong tranh thủy mặc Trung Quốc. Một miêu pháp đặc thù rất sinh động mà người viết đã từng mày mò tìm hiểu nhưng gặp phải sự bế tắc qua một thời gian dài và một điều khá là ngạc nhiên khi những vị họa sĩ người Hoa ở Cholon hầu như rất ít người quan tâm khai thác lãnh vực độc đáo này. 

     Cũng may sao trong tay hiện lưu giữ được 4 tác phẩm đồ họa của họa sĩ Phạm Tăng, một cao thủ trong làng thư họa Trung Quốc đương đại vẽ với thủ pháp "y văn miêu" nên lấy đó làm gốc để mở rộng tầm hiểu biết về lãnh vực đã từng yêu thích này. Toàn bộ 4 bức đều là những sản phẩm được tái tạo bằng kỹ thuât đồ họa dựa vào các tác phẩm gốc của Thập Dực Phạm Tăng đồng thời có cho tô thêm màu tay, có thể xem đây là những ấn bản đặc biệt dành cho những ai yêu thích họa sĩ Phạm Tăng mà không đủ điều kiện mua do tính độc bản hoặc về giá trị kinh tế. Mặc dù tranh đồ họa không thể lột tả được trọn vẹn cái tinh tế trong từng mạch bút của bản gốc nhưng với các bản in đồ họa cao cấp có tô thêm màu tay này cũng giúp cho ta năm bắt được phần nào cái tinh diệu trong cách dụng mặc và miêu pháp cá biệt của Thập Dực Phạm Tăng. Có lẽ chúng ta phải chấp nhận chuyện này vì không thể làm gì khác.

       Lưu ý. Bài viết này được xem như là một sự tóm lược những gì đã tiếp thụ qua nguồn mở trên mạng xã hội cũng như tham khảo với bạn bè. Việc làm này không ngoài mục đích lưu giữ làm tư liệu để mỗi khi cần đến là có thể xem ngay khỏi mất công đào bới lại từ đầu rất mất thời gian...

Trân trọng.  

Cauminhngoc.


I – SƠ LƯỢC TIỂU SỬ:

      Thập Dực Phạm Tăng (十翼范曾). Sinh ngày 5 tháng 7 năm 1938, hiệu là Thập Dực, biệt hiệu Bão Xung Trai chủ. Ông là một đại danh họa, nhà thư pháp, nhà thơ và học giả nổi tiếng bậc nhất của Trung Quốc đương đại.

  • Xuất thân & Học vấn: Ông sinh ra tại Nam Thông, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, trong một gia đình có truyền thống văn hóa lâu đời. Ông từng theo học tại Đại học Nam Khai và Học viện Mỹ thuật Trung Ương Trung Quốc, thụ giáo nhiều bậc thầy lớn như Lý Khổ Thiền, Lý Khả Nhiễm.
  • Phong cách: Tranh của Phạm Tăng nổi tiếng về mảng nhân vật mộc bút (bạch điêu, họa tạc ý), kết hợp uyển chuyển giữa thơ ca, thư pháp và hội họa truyền thống Trung Hoa.
  • Học hàm & Chức vụ: Ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Giáo sư thực thụ của Đại học Nam Khai, nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Nghệ thuật Trung Quốc.
  • Danh tiếng quốc tế: Thập Dực Phạm Tăng từng được vinh danh là một trong những họa sĩ đương đại có giá trị tác phẩm cao tại Trung Quốc và được thế giới công nhận. Ông cũng từng được trao Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp.
  • Đời tư gần đây: Tên tuổi của ông tiếp tục gây bão truyền thông quốc tế khi ở tuổi 86 (vào năm 2024), ông kết hôn với người vợ thứ tư là Xu Meng (Từ Mông, kém ông 50 tuổi) và đến cuối năm 2025, cặp đôi đã đón con trai đầu lòng.

 

II – BỘ TRANH ĐỒ HỌA CÓ TÔ MÀU TAY CỦA THẬP DỰC PHẠM TĂNG.

Hình 01. Loạt tranh ấn bản đặc biệt, gồm 4 bức của Thập Dực Phạm Tăng.

 

1 – BÁI THẠCH (拜石).



 

                                                     Hình 02. Bái thạch (拜石). Tích Mễ Phế?

                                      Đồ họa/tô màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                    Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.

                                  Lạc khoản: 壬申年 仲夏 抱冲齋主 十翼范曾 於巴黎  

          (Năm Nhâm Thân, giữa mùa Hạ, Bão Xung Trai Chủ, hiệu Thập Dực, tên Phạm Tăng ở Paris).

 

2 – CHUNG QUÌ: 驚芒立 (Kinh mang lập).


 

Hình 03. Chung Quỳ.驚芒立 (Kinh mang lập). Tích Chung Quỳ.

Đồ họa/tô màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                  Dựa theo bản vẽ năm Quý Dậu (1993). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.     

   Lạc khoản:

龍媒載傑起遐荒, (Long môi tái kiệt khởi hà hoang,)

喚醒春溫化雪霜。 (Hoán tỉnh xuân ôn hóa tuyết sương.)

雷掣輕蹄風掣電, (Lôi xiết khinh đề phong xiết điện,)

故教字字立驚芒。 (Cố giáo tự tự lập kinh mang.)

癸酉仲夏抱冲齋主十翼范曾澳門.

(Quý Dậu (1993) Trọng Hạ, Bão Xung Trai Chủ, Thập Dực, Phạm Tăng ư Áo Môn).


3 – LÃO TỬ XUẤT QUAN (老子出關).


 

                                                       Hình 04. Lão Tử xuất quan (老子出關). Tích Lão Tử.

                                                Đồ họa/màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

                                 Lạc khoản: 抱冲斋主范曾 (Bão Xung Trai Chủ Phạm Tăng).

                                          十翼意於巴黎 壬申仲夏 (Thập Dực ý ư Ba Lê, Nhâm Thân trọng hạ).

                        Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa.    

 

4 – HẬU XÍCH BÍCH PHÚ (後赤壁賦).


Hình 05. Hậu Xích Bích phú (後赤壁賦). Tích Tô Đông Pha...?

   Đồ họa/màu tay. Kt: 31cm x 78cm (không tính riềm).

Lạc khoản: 後赤壁賦 (Hậu Xích Bích phú)

              壬申年仲夏十翼范曾 (Nhâm Thân niên (1992) Trọng hạ, Thập Dực Phạm Tăng).

                           Dựa theo bản vẽ năm Nhâm Thân (1992). Chưa rõ năm và nơi thực hiện bản đồ họa. 

 

III – KỸ THUẬT IN.

     Dựa vào độ tinh xảo từng đường nét của bản in, cho thấy đây không thể là kỹ thuật in khắc gỗ litho vì không tìm thấy những dấu vết đặc thù thường để lại trên bề mặt sản phẩm sau khi in của mỗi thể loại vừa nêu. Sau khi tham khảo và đối chiếu thực tế những bản in sẵn có người viết cho rằng. Rất có thể nhà xuất bản đã sử dụng kỹ thuật in Kha-la bản (Collotype / 珂羅版). Một kỹ thuật in mới lạ chưa hề thấy nhắc đến ở Việt Nam.

     Một vài hình ảnh về những thể loại tranh: Khắc gỗ màu; Lothographes và Kha la bản (Collotype).


a - Tranh khắc gỗ Nhật Bản (Ukiyo-e).

 
  
Suzuki Harunobu (1720-1775).


b - Tranh lithographes.  

 
J.G. Besson (1868 – 1942).


c - Kha-la bản (珂羅版) // Collotype (kỹ thuật in keo ảnh).


 
Nhậm Bá Niên (1840–1896).



Theo như Google AI cho biết.

         Kỹ thuật In Kha-la bản (Collotype / 珂羅版): Đây là phương pháp in quang cơ cổ được phát minh năm 1855. Kỹ thuật này dùng tấm kính phủ lớp gelatin nhạy sáng làm khuôn in. Nhờ không dùng lưới lọc điểm ảnh, công nghệ tái tạo hình ảnh và sắc độ cực kỳ mịn màng, chân thực. Kỹ thuật này là "vua phục chế tranh cổ" của Trung Quốc đầu thế kỷ 20 (rất thịnh hành từ những năm 1910 - 1940). Kha-la bản không có các hạt tram lưới như in công nghiệp hiện đại, tạo ra độ chuyển màu mực vô cùng mịn màng, giống tranh vẽ tay đến 95%. Nhiều bức tranh quý của bảo tàng cố cung đã được phục chế bằng cách in Kha-la bản nét đen, sau đó tô màu tay lên.

        Đặc điểm và quy trình in Kha-la bản.

Nguyên lý hoạt động.

  • Dùng lớp gelatin pha muối bicromat phơi sáng qua phim âm bản.
  • Vùng nhận nhiều ánh sáng sẽ cứng lại và giữ nước.
  • Vùng nhận ít ánh sáng mềm đi và hút mực dầu.
  • Không dùng màn hình bán sắc (độ phân giải vô hạn về mặt quang học).

Ưu điểm nổi bật

  • Tái tạo sắc độ liên tục: Hình ảnh có chiều sâu và độ chuyển màu mượt mà.
  • Chất lượng lưu trữ: Bản in sắc nét, bền màu theo thời gian.

Ứng dụng nghệ thuật: Thường dùng sao chép tranh cổ và ảnh nghệ thuật cao cấp.

 

 IV – KỸ THUẬT VẬN MẶC VÀ MIÊU PHÁP SỬ DỤNG TRONG TRANH PHẠM TĂNG:

A – VẬN MẶC.

Kỹ thuật dụng mực (Vận mặc - 运墨) độc đáo của Phạm Tăng

   Trong hội họa truyền thống Trung Hoa theo lý thuyết mực đen sẽ cho ra năm sắc độ khác nhau gồm: Đậm, nhạt, khô, ướt, trong trẻo (Mặc phân ngũ sắc). Tuy nhiên, Phạm Tăng đã nâng tầm lý thuyết này biến nó thành một nét cá biệt mang đậm dấu ấn "Thập Dực".

1. Kỹ thuật "Tích mặc" (Tích tụ mực) và "Phá mặc" (Phá vỡ mực)

  • Bản chất: Phạm Tăng không dặm mực hay tô đi tô lại một cách thụ động. Khi vẽ, ông thường dùng các nét mực nhạt (đạm mặc) làm nền trước, sau đó dùng mực đậm (nồng mặc) chọc thẳng vào khi lớp mực trước chưa kịp khô hoàn toàn.
  • Hiệu ứng: Hai lớp mực đậm nhạt thẩm thấu, loang lổ vào nhau một cách tự nhiên nhưng có kiểm soát. Kỹ thuật này giúp tạo ra độ dày, độ mờ ảo của mây khói, hoặc chất sần sùi của da trâu, vỏ cây cổ thụ mà không cần dùng đến màu sắc.

2. Sự tương phản tuyệt đối giữa "Khô" (Tiêu khát) và "Ướt" (Nhuận trạch)

  • Khô (Cáo bút): Khi vẽ tóc, râu của các triết gia (như Lão Tử, Chung Quỳ) hay nếp gấp thô của áo vải, ông dùng ngọn cọ rất ít nước (khô mực). Nét vẽ xước ra, để lộ những khoảng trắng của giấy Tuyên (gọi là Phi bạch), tạo cảm giác già cỗi, gân guốc, phong trần.
  • Ướt (Tẩm mặc): Ngược lại, khi vẽ làn da em bé (mục đồng) hay cơ thể mềm mại, ông dùng ngọn cọ ngậm no nước và mực. Nét vẽ mượt mà, đầy đặn, căng tràn sức sống.

3. Triết lý "Kế bạch đương hắc" (Coi khoảng trắng như mực đen)

       Phạm Tăng là bậc thầy trong việc để lại những khoảng trống (lưu bạch). Đối với ông, khoảng giấy trắng không phải là chỗ trống bỏ quên, mà là nơi mực "chạy" vào trong tâm trí người xem. Một nét mực vận đi, kéo theo một khoảng trắng mênh mông biến thành bầu trời, dòng sông hay ý niệm vô vi của Đạo giáo. Mang đến cho người thưởng lãm một cảm súc ảo thị đến chân tơ kẽ tóc.


B – MIÊU PHÁP.

         Một số miêu pháp thấy được trong 4 bức tranh đồ họa của Phạm Tăng.

         Đối với phong cách của Phạm Tăng trong bức tranh này, các đường nét nếp áo và vật thể được thể hiện qua các loại miêu pháp chủ đạo sau:

1.      Chiết lư miêu (折芦描 - Vẽ nếp gấp lau sậy)

·        Chiết lư miêu (Nét vẽ như nhánh lau sậy bị bẻ gãy). Là loại bút pháp cốt lõi tạo nên phần trang phục của hai nhân vật trong ảnh. Khi vận cọ, họa sĩ dùng phần rìa của ngọn bút (trắc phong) xoay chuyển đột ngột, tạo ra các góc gập nhọn, sắc cạnh, mạnh mẽ. Đường nét có xu hướng thô, dứt khoát và chuyển hướng gãy khúc đột ngột giống như một cành lau sậy bị bẻ gãy.

  • Tác dụng: Tạo cảm giác tà áo vải thô vô cùng dày dặn, cứng cáp, mang đậm khí chất phong trần, cương nghị và tư tưởng ẩn dật thoát tục.

2. Khô sài miêu (枯柴描 - Vẽ củi khô)

  • Khô sài miêu (Nét vẽ như những cành khô trơ trụi) hoặc đôi khi kết hợp với Chước tạc miêu (剁描 - Nét góc cạnh như nhánh củi bị chặt ra từng đoạn). Trong tranh thể hiện rất rõ ở phần vạt áo phía dưới chân nhân vật và các cấu trúc đá, vách núi phía sau. Đường nét khô ráo, góc cạnh, cứng ngắc và có độ xước nhất định do cọ ít nước (phi bạch). Nét vẽ trông giống như những thanh củi khô hay các vết rìu chặt vào thớ gỗ, đá tảng.
  • Tác dụng: Biểu đạt cấu trúc gồ ghề của đá và nếp áo thô ráp chịu sương gió, hòa hợp nhân vật vào bối cảnh thiên nhiên vách đá già cỗi.

3. Đinh đầu thử vĩ miêu (钉头鼠尾描 - Nét đầu đinh đuôi chuột)

  • Đinh đầu thử vĩ miêu. Nét vẽ giống như cây đinh dùng để đóng vào chassis mỗi khi căng vải bố vẽ, có đầu chè bè duôi nhọn hoắt. Trong tranh nó xuất hiện ở một số nếp gấp động trên cánh tay phóng khoáng của nhân vật. Khi hạ bút, họa sĩ nhấn mạnh cổ tay tạo một chấm vuông lớn chắc nịch như đầu đinh, sau đó kéo nhanh và vuốt nhỏ dần, thu ngọn cọ sắc nhọn như đuôi con chuột.
  • Tác dụng: Tạo sự chuyển động linh hoạt, mềm mại nhưng vẫn giữ được bộ khung xương khỏe khoắn cho trang phục.

Tóm lại: Bằng cách hòa trộn nhuần nhuyễn giữa Chiết lư miêuKhô sài miêu, Phạm Tăng đã hiện thực hóa trọn vẹn triết lý "Thư pháp làm xương". Thay vì tô vẽ hình khối, ông dùng chính sức nặng, độ nhấn nhá và những khúc gãy góc của nét chữ thư pháp để "dựng khung" cho nếp áo, khiến bức tranh toát lên vẻ tiêu sái, ngạo nghễ.

    C – MIÊU PHÁP CƠ BẢN VẼ NẾP ÁO TRONG TRANH TRUYỀN THỐNG TRUNG QUỐC.

       Cơ bản nhất là Y văn Thập Bát Miêu (十八描) là tên gọi cho 18 kỹ thuật vẽ nếp gấp quần áo truyền thống (y văn) trong hội họa Trung Hoa cổ đại. Hệ thống này khái quát các phương pháp sử dụng đường nét (tuyến miêu) nhằm lột tả các loại chất liệu vải (tơ lụa, vải thô, gấm vóc) và phong thái của nhân vật từ thời Ngụy-Tấn, Đường, Tống cho đến khi được đúc kết hoàn chỉnh vào thời nhà Minh bởi Trâu Đức Trung trong cuốn Hội sự chỉ mông.

        Dưới đây là chi tiết về 18 phép vẽ nếp áo, được phân bổ làm 4 nhóm chính:

1. Nhóm nét vẽ thanh mảnh, uyển chuyển (Phù hợp vải lụa mềm)

  • Cao cổ du ty miêu (高古游丝描): Nét vẽ thanh mảnh, tròn đều như sợi tơ xuân (hay tơ tằm kéo), di chuyển đều tay không có sự thay đổi đột ngột về độ dày. Đây là kỹ thuật lâu đời nhất, thường thấy trong tranh mỹ nữ, thần tiên của Cố Khải Chi (thời Đông Tấn).
  • Cầm huyền miêu (琴弦描): Nét vẽ thẳng, đều đặn và có độ căng như dây đàn. Kỹ thuật này dày hơn một chút so với Du ty miêu, lột tả các nếp áo rủ thẳng đứng của trang phục lụa.
  • Thiết tuyến miêu (铁线描): Nét vẽ cứng cáp, tròn trịa, dày đều vững chãi như sợi dây sắt, không có vệt yếu mềm. Phương pháp này thể hiện các loại vải có độ dày và đứng dáng.
  • Hành vân lưu thủy miêu (行云流水描): Nét vẽ uốn lượn, liên tục mềm mại như mây trôi nước chảy, thể hiện sự bay bổng của tà áo cổ trang khi có gió.

2. Nhóm nét vẽ nhấn thả, có nhịp điệu (Khắc họa nếp gấp tự nhiên)

  • Lan diệp miêu (兰叶描): Nét vẽ mô phỏng hình lá lan, có sự biến chuyển rõ rệt giữa nhấn (đậm, dày) và thả (nhạt, thanh) nhờ lực cổ tay. Kỹ thuật do "Họa thánh" Ngô Đạo Tử (thời Đường) phát triển, tạo cảm giác vô cùng sống động.
  • Mã hoàng miêu (蚂蝗描): Đường nét uốn lượn tự nhiên, hai đầu nhọn và uốn cong giống như con đỉa (mã hoàng) di chuyển. Nét vẽ uyển chuyển nhưng không bị đứt đoạn, tạo độ dày cho vải bạt hay vải bố.
  • Đinh đầu thử vĩ miêu (钉头鼠尾描): Khởi bút nhấn mạnh, dứt khoát tạo thành hình như đầu đinh, sau đó kéo dài và vuốt nhỏ dần về cuối như đuôi chuột. Kỹ thuật này mang tính tạo hình cao, thể hiện nếp gấp dứt khoát.
  • Tao y miêu (曹衣描 / 曹衣出水): Cách vẽ nếp áo dày đặc, ôm sát vào cơ thể nhân vật như vừa từ dưới nước bước lên. Do họa sĩ Tào Trọng Đạt khởi xướng, thường dùng vẽ tượng Phật hoặc vải mỏng như lụa mỏng.

3. Nhóm nét vẽ mô phỏng hình thể thực vật (Đậm tính ước lệ)

  • Tảo hạch miêu (枣核描): Nét vẽ có hai đầu nhọn, phần giữa phình to tròn trịa giống như hạt táo. Thường dùng nét bút lớn để tả vải thô.
  • Chất lư miêu (折芦描): Nét vẽ dài, thanh mảnh nhưng đến các đoạn chuyển góc thì gập gãy sắc cạnh giống như lá lau, lá sậy bị bẻ gập. Nét vẽ tạo cảm giác sắc sảo, mạnh mẽ.
  • Liễu diệp miêu (柳叶描): Giống như hình lá liễu, nét vẽ mềm mại hơn Tảo hạch miêu nhưng có độ phình nhẹ ở giữa và thanh thoát ở hai đầu.
  • Trúc diệp miêu (竹叶描): Mô phỏng kỹ thuật vẽ lá trúc trong tranh thủy mặc. Hạ bút nghiêng, vuốt nét ngắn, dứt khoát, nếp gấp ngắn và gãy gọn.

4. Nhóm nét vẽ phóng khoáng, góc cạnh (Phù hợp vải thô, rách, phong cách tả ý)

  • Hỗn miêu (混描): Sự kết hợp giữa nét vẽ nhạt (đạm mặc) làm nền nếp gấp trước, sau đó dùng mực đậm (nồng mặc) điểm xuyết chồng lên để tăng độ dày và lập thể.
  • Quất đầu đinh miêu (头丁描): Điểm khởi bút cực kỳ thô, mạnh và vuông vức như đầu đinh sắt lớn, nét vẽ ngắn, thể hiện chất liệu áo tơi, vải thô ráp của tầng lớp lao động.
  • Chiến bút thủy văn miêu (战笔水纹描): Dùng ngòi bút chuyển động run rẩy, gấp khúc liên tục tạo ra các đường lượn sóng. Cách này mô phỏng nếp nhăn nheo của trang phục cũ hoặc nếp áo của người già.
  • Giảm bút miêu (减笔描): Tối giản hóa đường nét đến mức tối đa, chỉ dùng vài nét bút phóng khoáng nhưng lột tả được toàn bộ cấu trúc tà áo. Điển hình là tranh vẽ của Lương Khải (thời Tống).
  • Khô sài miêu (枯柴描): Sử dụng bút khô (tiêu mặc) lướt nhanh trên giấy tạo ra các nét xước, rạn nứt như cành củi khô, lột tả hoàn hảo các bộ quần áo rách rưới, vải thô sơ của bang chúng, hành giả.

Khâu dẫn miêu (蚯蚓描): Nét vẽ tròn, uốn lượn liên tục, đều đặn mượt mà và chuyển động chậm rãi như con giun (khâu dẫn) bò.

 

V – NIÊN ĐẠI CỦA BỐN BỨC TRANH.

      Đây là loạt tranh in theo kỹ thuật đồ họa thủ công dựa vào bản gốc của Thập Dực Phạm Tăng vẽ có ghi niên đại rất rõ ở vào hai năm (1992) và (1993). Toàn bộ 4 bức chưa rõ được in vào năm nào và do ai đứng ra xuất bản. Nhưng căn cứ theo niên đại mà Phạm Tăng đã ghi trong tranh, từ đó suy ra những tác phẩm đồ họa này phải được in ra sau năm 1993 chứ không thể sớm hơn.



Hình 06 - Hồng trung ( )? nhãn dán ở đầu trục bức tranh.

            Nét chữ bị mờ đọc chưa chính xác. Không rõ đây là nhà xuất bản hay cửa hàng bán tranh!?

 

VI. SO SÁNH 2 BỨC ĐỒ HỌA ĐƯỢC TÁI HIỆN LẠI TÁC PHẨM CHUNG QUỲ.

        Đây là hai bức đồ họa cùng lấy chung từ tác phẩm Chung Quỳ, rất tiếc là không tìm thấy bản gốc vẽ tay của Phạm Tăng để mà so sánh.


Hình 07.    Chung Quỳ (a)                  Chung Quỳ (b)

         Khi đặt hai bức tranh Chung Quỳ (a); (b) cạnh nhau, chúng ta có thể nhận thấy hai hướng chế tác hoàn toàn khác biệt từ cùng một bản gốc của Phạm Tăng:

  • Về đường nét cốt (Nét mực đen): Bản chất các nét mực đen (nét cốt lõi) định hình nhân vật, con ngựa và các chữ viết của cả hai bức giống nhau đến hơn 95% từ vị trí, chp đến hình dáng. Điều này khẳng định: Cả hai bức đều sử dụng chung một công nghệ in nền cốt đen (dùng kỹ thuật in Mộc bản thủy ấn hoặc Thạch bản) lấy từ cùng một bản gốc duy nhất của Phạm Tăng vẽ về Chung Quỳ vẽ năm 1993 (Quý Dậu).

  • Về công đoạn hậu kỳ: Theo như kỹ thuật in mộc bản thì nét đen sẽ in sau cùng để đóng khung sự vật. Nhưng trong tác phẩm Chung Quỳ này thì nét đen cốt lõi được in xong rồi mới bổ sung việc dùng tay tô thêm vào hai màu đỏ và sám, hai bức được xử lý theo hai phong cách khác nhau:

   i - Bức Chung Quỳ (a): Bức này cho thấy được nhà xuất bản đặt vấn đề quan tâm ngay từ đầu, họ muốn nâng tầm sản phẩm của mình lên một vị thế cao cấp (ấn bản đặc biệt), nên sau khi cho in nét cốt lõi xong, họ giao cho nhóm nghệ nhân khác (1) có nhiệm vụ tô thêm màu vào góp phần cho bức tranh được sinh động hơn, quan sát kỹ sẽ thấy:

-        Màu đỏ: ở khuôn mặt và áo bào. Mỗi nơi đều có sắc độ đậm nhạt khác nhau biểu diễn được nét đỏ hồng của khuôn mặt, cũng như nếp gấp dày mỏng của vải tạo khối rất sống động.

-        Màu xám: mô tả râu tóc, đôi giày, bờm và đuôi ngựa, đồng thời nó cũng tạo khối lẫn góc cạnh, góp phần mô tả được sự mạnh mẽ của đôi chân con ngựa. Cái tuyệt khéo của người tô màu là đã dùng sắc độ đậm nhạt thật tinh tế để chuyển tải được cái chất của sự vật rất rõ ràng.

Nói chung là hai màu đỏ và xám được khai thác rất mạch lạc đâu ra đó và đặc biệt là thực hiện kỹ thuật vẩy bột khoáng trắng thủ công dày đặc để tạo không gian bão tuyết (phù hợp với nội dung bài thơ "Kinh Sa" - vượt qua tuyết sương).

    ii - Bức Chung Quỳ (b): Người chế tác không vẩy đốm tuyết vào bề mặt bức tranh. Mảng màu đỏ trên áo bào được tô phẳng không có độ đậm nhạt. Bờm ngựa cũng không được vẽ vào nên bức tranh nhìn thấy khô khan hụt hẫng. Đã vậy, họ còn ép thêm 3 dấu ấn triện giả cổ kích thước khá to vào giữa tranh trên đầu nhân vật Chung Quỳ, mục đích để tạo cảm giác đây là một bức tranh cổ quý hiếm từng nằm trong các bộ sưu tập hoàng gia hoặc đại gia tộc thời xưa. Nhưng chính vì chuyện làm trái khoáy này mà phần bố cục bức tranh khi nhìn vào có cảm giác như bị một cái gì đó đè nặng trên đầu mất đi cái thanh thoát, đồng thời kìm hãm sức mạnh của con ngựa đang trên đà phóng tới...

          Ý kiến đánh giá tổng quan

  • Cả hai bức tranh này đều là các ấn bản mỹ nghệ sao chép (Fine Art Reproductions) được thực hiện bằng kỹ thuật in cốt đen kết hợp tô màu tay thủ công từ bức vẽ gốc năm 1993 của Phạm Tăng.

·        Bức Chung Quỳ (a) vẫn có giá trị thưởng lãm và nghệ thuật hơn bức Chung Quỳ (b), vì nó có sự đồng bộ hoàn hảo và kỹ thuật vẩy tuyết thủ công của nó tạo ra hiệu ứng thị giác nổi khối, sinh động và có chiều sâu không gian hơn hẳn bức Chung Quỳ (b) được tô phẳng có đóng 3 dấu triện lớn.

 

VII – MỘT VÀI TÁC PHẨM CỦA PHẠM TĂNG LẤY TRÊN MẠNG XÃ HỘI.

                         Lấy điển tích Lão Tử Xuất quan và Chung Quỳ.






Cauminhngoc

04/9/2026


(1)   Đôi khi nhà in giao lại cho chính tác giả thực hiện chuyện tô màu tay này, vì giao cho chính họa sĩ thực hiện sẽ mang đến nhiều điều thuận lợi, do góc nhìn chuyên nghiệp và bàn tay điêu luyện thì mọi sự sẽ chuẩn xác tinh tế và sống động hơn. Còn như giao cho thợ thực hiện, việc tô màu tay này mang tính chiếu lệ cho có, hoàn toàn vô cảm khô khan mất hẳn đi sự tinh tế cuốn hút (Xem Hình 07 (a) và (b) sẽ rõ).

    Tôi nghĩ vậy vì dựa vào chuyện có thật đã xảy với tôi. Vào đầu thập niên 80/TK.20 khi mua được bộ tranh in litho “Cochinchine – Culte – Tome VIII”, tôi có dịp gặp và hỏi họa sĩ Nguyễn Siên về bộ tranh. Ông xem và chỉ vào những bức tranh có ký tên CÔN vẽ Lăng Ông (Lăng Lê văn Duyệt ở Gia Định) cho biết đó là tranh của bạn ông vẽ, muốn biết thêm gì về bộ tranh này cứ hỏi ông Côn sẽ rõ. Tôi có giải bày với ông Siên là rất mê cách tô màu nước để thể hiện ánh sáng rất rực rỡ và sống động của ông Côn trong tranh, thấy tôi ngưỡng mộ như vậy họa sĩ Nguyễn Siên đã nhiệt tình dẫn tôi đến nhà họa sĩ Côn tọa lạc ở khu vực cổng xe lửa số 6 quận Phú Nhuận để tôi có dịp diện kiến, đồng thời ông Siên cũng nói với tôi là muốn cho họa sĩ Côn có dịp xem lại những tác phẩm của mình sau nửa thế kỷ.

     

  
Tờ giới thiệu bộ tranh litho nói về Nam Kỳ. Xuất bản năm 1935.

         Khi cầm trong tay bộ tranh, họa sĩ Côn rất thích thú đồng thời cho tôi biết thêm là sau khi in litho xong, nhà in đã đưa lại cho ông những bản in đen trắng để ông tô thêm màu tay vào rồi mới đem đi giao cho nhà xuất bản. Bà Côn cũng cho biết cứ mỗi bức như vậy ông Côn được nhận thù lao là 10 đồng Đông Dương. Trước khi ra về tôi đã xin ông Côn ký tên vào những bức tranh và ông Côn đã vui vẻ ký tên mình vào những bức tranh bằng bút bi mực xanh.