Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

Họa sư Hà Lãn Hùng (何懶熊)

     HỌA SƯ HÀ LÃN HÙNG (何 懶 熊).

     Họa sĩ Hà Lãn Hùng. Hiệu Cổ Tùng, biệt hiệu Hùng Nhĩ. Người huyện Tân Hội, Tỉnh Quảng Đông, Môn đồ Hỗ phái. Từng theo học Vương Nhất Đình, sang Việt Nam năm 1932, dạy văn chương và hội hoạ ở trường trung học Trung Hoa, Hà Nội. Năm 1946 vào Chợ Lớn, giảng dạy tại các trường Quảng Triệu, Tuệ Thành, Lĩnh Nam…

     Ông là người đa tài. Nhất là thi ca. Trong tác phẩm của ông có rất nhiều bài thơ do ông sáng tác. Ông khá nổi tiếng ở Cholon trước năm 1975. Và ông là một trong “Tứ đại danh hoạ” đứng đầu “Tứ Đại phái” vùng Sài Gòn- Chợ Lớn trước 75... Được phân định như sau: Đứng đầu Kinh phái là Đới Ngoạn Quân; Hổ phái là Hà Lãn Hùng; Lĩnh Nam phái là Lương Thiếu Hàng và Tây phái là Sài Đinh (Vẽ sơn dầu). 

   Quyển họa tập “Cổ Tùng Hiên sư sinh tác phẩm niên triển tập” ( 古松軒師生作品年展集). Của thầy trò Hà Lãn Hùng (何 懶 熊). Ấn hành vào năm 1973. Do họa sĩ Đới Ngoạn Quân đề tựa. Họa sĩ Hà lãn Hùng cũng là người cùng thời với một số họa sĩ rất nổi tiếng khác như: Trương Quýnh Sơ; Trần Kim Hồng; Đới ngoạn Quân; Lương Thiếu Hàng...v...v... và một số nhân vật nổi tiếng về văn học khác nữa. Mẹ ông là bà Lý Liên Tử.

      Bà Đinh Lan Phương, học trò và cũng là phu nhân của Hà tiên sinh, giới thiệu vựng tập “Thế giới Hà thị tông thân họa triển”, in ở Hương Cảng năm 2000, qua đó cho thấy Hà Lãng Hùng từng được bảo tàng lịch sử Mỹ thuật Đài Bắc mua tranh và triện khắc vào các năm 1966 và 1971. Môn đồ Hỗ phái ở Chợ Lớn nay phần nhiều định cư hải ngoại, trong số hữu danh có họa sĩ người Việt Nguyễn Thị Hảo. (Rất tiếc là chưa gặp được tư liệu nào nói về năm sinh cũng như năm mất của họa sĩ Hà Lãn Hùng). 

    Đặc điểm của Hỗ phái: đường nét vững chắc, nét viền to, không đều, màu sắc tương phản, sắc độ đậm. Bố cục thật dày khít hoặc để trống nhiều nơi. (Nguồn. Phạm Hoàng Quân. "Hội họa Cholon một thời").

      Tác phẩm:  Họa sĩ Hà lãn Hùng. Hầu nhi. Mực nho màu/ xín chỉ. Kt: 40cm x 96cm. Năm vẽ: Giáp Thân (1944). Thể loại tranh trục.

         Lạc khoản:  Giáp Thân Trọng Hạ Nguyệt. (甲申仲夏月).

                                Hùng Nhĩ Sơn Nhân Tả “Thu Thanh”. (熊耳山人寫秋聲”).

                                                                    
Hình 01. HS. Hà Lãn Hùng. Tiểu hầu nhi. Mực nho màu/ xín chỉ. 
Kt: 40cm x 96cm. Năm vẽ: Giáp Thân (1944).



1 - Thuân pháp và kỹ thuật dụng mặc của họa sĩ Hà Lãn Hùng.

Đường nét vững chắc, nét viền to, không đều, màu sắc tương phản, sắc độ đậm. Bố cục thật dày khít hoặc để trống nhiều nơi. 


Hình 02.

Hình 03.


Hình 04.

Hình 05.





2 - Phần lạc khoản trong bức Tranh.



                                                  Hình 06. Giáp Thân Trọng Hạ Nguyệt. (甲申仲夏月).

                                      Hùng Nhĩ Sơn Nhân Tả “Thu Thanh”. (熊耳山人寫 “秋聲”).



3 - Con dấu trong bức tranh và quyển họa tập.


Hình 07. Con dấu bên trên: Từ phải qua gồm hai chữ. Lãn Hùng ( 熊 懶 ).


Hình 08. Quyển họa tập “Cổ Tùng Hiên sư sinh tác phẩm niên triển tập” ( 古松軒師生作品年展集). Của thầy trò Hà Lãn Hùng. Ấn hành năm 1973 tại Saigon-Cholon. (Tư liệu do bạn Vô Danh cung cấp).


Cauminhngoc
02/01/2024

      Dưới đây là bài viết của nhà nghiên cứu Hán Nôm kiêm thư pháp gia Phạm Hoàng Quân.

Hội họa Chợ Lớn một thời

      Với người dân Chợ Lớn, nhất là những hoạ sĩ, vẽ tranh là thú thư giãn và cũng là cách để gìn giữ di sản.

 Tây Phái. Cách nay 75 năm, họa sĩ Lưu Khúc Tiều (hiệu Sài Định, 1900 – 1978), sau khi du học ở Nhật và Pháp, mở lớp dạy vẽ tranh sơn dầu (oil painting) ở Chợ Lớn, hoạt động mỹ thuật này có thể xem là khá sớm trong lịch sử hội hoạ Chợ Lớn, nhưng hoạ phái theo Tây này nhanh chóng lạc lõng. Ngày nay nhiều tiệm sách cũ ở Sài Gòn – Chợ Lớn còn bày bán tập tranh Lưu Khúc Tiều Sài Định họa tập in năm 1971.

     Hoạt động hội họa của người Hoa ở Chợ Lớn chỉ mới được du nhập từ Trung quốc vào khoảng thập niên 30 thế kỷ trước, theo bước chân của giới trí thức, văn nghệ sĩ chạy loạn cuộc chiến Trung – Nhật. Thời điểm này cũng là giai đoạn định hình của ba trường phái lớn của hội hoạ thủy mặc Trung Hoa là Kinh phái, Hỗ phái và Lĩnh Nam phái.

 Hỗ phái

Cổ Tùng hiệu chủ nhân Hà Lạng Hùng là môn đồ Hỗ phái, người huyện Tân Hội, Quảng Đông, từng theo học Vương Nhất Đình, sang Việt Nam năm 1932, dạy văn chương và hội hoạ ở trường trung học Trung Hoa, Hà Nội. Năm 1946 vào Chợ Lớn, giảng dạy tại các trường Quảng Triệu, Tuệ Thành, Lĩnh Nam… Cách nay năm năm, bà Đinh Lan Phương, học trò và cũng là phu nhân của Hà tiên sinh, giới thiệu vựng tập Thế giới Hà thị tông thân họa triển in ở Hương Cảng năm 2000, qua đó cho thấy Hà Lãng Hùng từng được bảo tàng lịch sử Mỹ thuật Đài Bắc mua tranh và triện khắc vào các năm 1966 và 1971. Môn đồ Hỗ phái ở Chợ Lớn nay phần nhiều định cư hải ngoại, trong số hữu danh có họa sĩ người Việt Nguyễn Thị Hảo.

 Kinh phái

Năm 1954, môn hội họa thủy mặc được trường cao đẳng Mỹ thuật (Sài Gòn) đưa vào chương trình giảng dạy chính thức, họa sĩ Đới Ngoan Quân là người đầu tiên phụ trách môn học này. Đới Ngoan Quân người Quảng Đông, tốt nghiệp họa viện Quảng Châu, môn đồ Kinh phái, là một trí thức đa tài, vẽ tranh, viết chữ, điêu khắc môn nào cũng tinh tế. Ngoài các họa sĩ người Hoa, tầm ảnh hưởng của Đới Ngoan Quân lan rộng đến thế hệ họa sĩ người Việt đương thời, kỳ pháp dụng bút, mực trong thủy mặc được linh động ứng dụng trong tranh màu nước và tranh lụa. Năm 1992, một triển lãm cá nhân của Đới Ngoan Quân được tổ chức tại trung tâm Văn hoá Pháp (TP.HCM). Cách đây năm năm, điêu khắc gia Bàng Nghiêu Dân, người thông dịch khi Đới Ngoan Quân giảng học, cho biết ông Đới vẫn sống ở Pháp và sáng tác đều đặn, dù tuổi đã quá 90.

Cùng xuất thân từ Kinh phái còn có họa sĩ Chiêm Quốc Hùng, người Quảng Đông, tốt nghiệp họa viện Quảng Châu, thụ nghiệp thuỷ mặc truyền thống với các danh họa Trung Quốc như Hoàng Quân Bích, Triệu Hạo Công. Từ năm 1956 đến 1975, dạy thủy mặc ở trường cao đẳng Mỹ thuật Huế, các hoạ sĩ người Việt Tôn Thất Văn, Đinh Cường lĩnh hội nhiều ở bút pháp họ Chiêm. Sau năm 1975, Chiêm Quốc Hùng vào Sài Gòn, dạy vẽ tại nhà riêng, trong số những người đến thụ nghiệp có Trương Lộ, hiện là một hoạ sĩ hữu danh. Trương Lộ chịu ảnh hưởng nhiều ở ông về kỹ pháp công bút và ký họa nhân thể.

Nếu có dịp ghé chùa Hoa Nghiêm (của người Hoa) trên đường Trần Kế Xương quận Phú Nhuận, hãy tham quan ngôi tháp phía sau chùa, đó là một công trình điêu khắc đá độc đáo. Tám phiến đá kết thành tám mặt tháp là một bộ tranh khắc liên hoàn, hình tượng 16 vị La Hán, thần thái sinh động và linh dị. Từ bộ tranh gốc của Quán Hưu thời Ngữ Đại, bộ tranh này là một phiên bản xuất sắc không kém các phiên bản ở những ngôi chùa vùng Tứ Xuyên, Quảng Tây, kể cả bộ khắc gỗ lưu ở Tịnh Từ tự, Tây Hồ, Hàng Châu. Người thực hiện bộ tranh này là họa sĩ Tả Bạch Đào, người Hồ Nam, học họa viện Quảng Châu sống ở Chợ Lớn từ năm 1954. Hoạ sĩ Trần Đức Minh thuật lại rằng, thầy tôi đã ở hẳn trong chùa và ăn chay suốt hơn mười tháng để hoàn thành tác phẩm tuyệt xảo đó.

 Lĩnh Nam phái

Nhiều họa sĩ người Hoa hữu danh hiện nay như Lý Tùng Niên, Lư Tòng Đạo, Mạc Ái Hoàn, Trương Hán Minh, Lý Trung Lương… xuất thân từ Đông Phương nghệ uyển, một trường vẽ theo họa phái Lĩnh Nam, do Lương Thiếu Hàng mở tại Chợ Lớn năm 1960. Trong những họa sĩ tiên phong, có lẽ Lương Thiếu Hàng, là người được nhiều thành tựu, môn đồ đông đảo, trong đó có nhiều người thành danh. Trong lời tựa vựng tập Nam tứ họa san in năm 1966, Lương Thiếu Hàng viết: “Tôi sinh trưởng trong một gia đình nông dân, sớm mồ côi cha… vừa trưởng thành, tôi được ông Lý Thọ Ấm, một họa sĩ có tiếng, chỉ dạy khá nhiều về hội họa. Kế đến tôi theo học trường Mỹ thuật Đông Nam ở Quảng Châu, sau khi tốt nghiệp, tôi lại xin học trường Mỹ thuật Vạn Quốc ở Hương Cảng để nghiên cứu cách dung hoà nghệ thuật Đông – Tây. Vừa lúc gặp môn phái hội họa Lĩnh Nam đang lúc hưng khởi, khiến tôi tìm đến Lĩnh Nam hoạ uyển và xin học với thầy Triệu Thiếu Ngang”.

Lúc Lương Thiếu Hàng tìm đến cầu học, Triệu Thiếu Ngang đã lừng lẫy danh tiếng, họ Triệu đã đưa nghệ thuật Lĩnh Nam lên tới đỉnh, là truyền nhân của Cao Kỳ Phong (một trong Lĩnh Nam tam kiệt), họ Triệu đã gây tiếng vang lớn trong nước và ảnh hưởng đến Hoa kiều của hơn mười quốc gia hải ngoại. Trong hơn mười hoạ sĩ xuất sắc đời thứ hai phái Lĩnh Nam, Từ Bi Hồng nhận định rằng Triệu Thiếu Ngang xứng đáng là thủ lĩnh.

Lý thuyết và lược sử hội họa Trung Hoa, được trình bày có hệ thống, được biết sớm ở Việt Nam do họa sĩ Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ (đồng sáng lập trường Mỹ thuật Đông Dương) với thiên khảo cứu Pháp ngữ La Peinture Chinoise đăng trên tạp chí Nam Phong số tháng 11.1929.

Hoạ Họa đàn Chợ Lớn những năm 60, 70 bắt đầu phấn phát, các bậc tiền bối ươm giống gieo mầm đều là những trí thức tài hoa, hầu hết xuất thân từ những trường vẽ lớn ở Trung Quốc hoặc được thụ nghiệp với các cao thủ trong làng hội họa.

Năm 1970, trong một cuộc triển lãm gây quỹ mua sắm trang thiết bị cho bệnh viện Sùng Chính (nay là trung tâm Chấn thương chỉnh hình) đã có đến 113 họa sĩ tham dự, cùng với 30 hoa sĩ đến từ Hương Cảng và 64 hoạ sĩ đến từ Đài Loan. Cuộc triển lãm có quy mô tổng lực này tề tựu thầy trò của đủ bốn phái ở Chợ Lớn (Tây hoạ Sài Đinh; Kinh phái Đới Ngoan Quân, Tả Bạch Đào; Hỗ phái Hà Lãng Hùng; Lĩnh Nam Lương Thiếu Hàng), họa sĩ Lý Tùng Niên, người đã tham dự cuộc bày tranh này, năm nay 78 tuổi, mắt sáng lên khi nghe nhắc đến chuyện cũ, ông bảo rằng đó là cuộc triển lãm ấn tượng nhất trong đời, là cuộc hội ngộ sinh động và rất đẹp.

Ba họa phái.

Vùng Bắc Bình và các hoạ viện vẫn trung thành với phương pháp truyền thống, gọi là Kinh phái (Quốc tuý phái) với đại biểu Kim Thành, Diêu Hoa…; Vùng Thượng Hải, Hàng Châu hình thành Hỗ phái với Vương Nhất Đình, Ngô Đại Trừng… cách tân thủy mặc theo xu hướng bố cục Tây họa, màu sắc mạnh mẽ ...; Vùng Quảng Châu, Lĩnh Nam phái được sáng lập bởi ba bậc thầy từng du học nhiều năm ở Nhật Bản: Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân. Những hoạ sĩ xuất thân từ phái họa Kinh, Hỗ, Lĩnh Nam lần lượt sang Chợ Lớn.

Đặc điểm, ước lệ của ba phái:

1. Kinh phái: đường nét được khảo tả cẩn thận, chỉn chu, nét viền nhuyễn màu sắc với gam màu trung hoà, dùng nhiều các màu chàm, vàng đất, son nhẹ. Bố cục kín đáo, không thưa, không dày.

2. Hỗ phái: đường nét vững chắc, nét viền to, không đều, màu sắc tương phản, sắc độ đậm. Bố cục thật dày khít hoặc để trống nhiều nơi.

3. Lĩnh Nam: đường nét giản lược hoặc không sử dụng nét viền, màu sắc đậm và chuyển sắc độ nhanh. Bố cục thoáng, mặt tranh nhiều phần trắng.



  VÀI BỨC TRANH THUỘC CÁC MÔN PHÁI CỦA NGƯỜI HOA Ở CHOLON VIỆT NAM.

1 - Kinh phái: Họa sĩ Đới Ngoạn Quân.

Mỹ nhân hương thảo. Mực nho/giấy. Năm 1959.


2 - Hỗ phái: Họa sĩ Hà Lạng Hùng.

Chú vượn con. Mực nho màu/giấy. Năm 1944.


3 - Lĩnh Nam phái: Họa sĩ Lý Tùng Niên và Ngô Ngọc Anh.

                                                        
                                    HS. Lý Tùng Niên. Sơn thủy. Mực nho màu.giấy. Sau 1975.


Nữ họa sĩ Ngô Ngọc Anh. Sơn thủy. Mực nho màu/giấy. Năm 1973.



4 - Tây phái (Vẽ sơn dầu). 
 
a - Họa sĩ A Phan (Phan Tư Phước).

                                             Anh hùng tương ngộ. Sơn dầu/bố. Vẽ trước 1975.



Con kinh phía sau chợ Bình Tây (Cholon). Sơn dầu/bố. Năm vẽ 1957.



Nhị tổ Huệ Khả, Sơn dầu/bố. Trước 1975. Sơn pha loãng như mực nho. 
Vẽ phỏng theo tranh của Thạch Khác, Thế kỷ thứ X.



b - Họa sĩ Lương văn Tỷ.










Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét