Thứ Năm, 7 tháng 8, 2025

KÝ HỌA TRUYỀN THẦN CỦA BA DANH HỌA Ở NỬA ĐẦU THẬP NIÊN 40/TK.20 TẠI VIỆT NAM.

           

KÝ HỌA TRUYỀN THẦN CỦA BA DANH HỌA Ở NỬA ĐẦU THẬP NIÊN 40/TK.20 TẠI VIỆT NAM.

     Ba gương mặt mỹ nhân do 3 họa sĩ nức tiếng trong và ngoài nước cùng thực hiện theo lối ký họa truyền thần ở ba vùng miền của đất nước. Saigon – Hanoi và Huế vào nửa đầu thập niên 40/TK.20. Giai đoạn khốc liệt của Đệ Nhị Thế Chiến đang lan tràn toàn cõi Đông Dương (1940-1945). Dẫu vậy! Với tinh thần nghệ thuật không ngừng sống và ghi nhớ, các họa sĩ Việt Nam và Nhật Bản vẫn miệt mài thực hiện những bức chân dung, giữ lấy giá trị con người dưới vòm trời khói lửa chiến tranh. Ba bức tranh, ba tâm thế, ba cách nhìn nhưng cùng một tinh thần vị nghệ thuật trên hết đã để lại cho hậu thế những kỷ vật độc bản quý giá chỉ dấu cho một thời đã qua.

 

I/ HỌA SĨ TSUGUHARU FOUJITA (1886-1968).

                                               

Chân dung Tsuguharu Foujita chụp năm 1924 (Nguồn: Wikipedia)

       Vào năm 1941. Sau khi chiếm trọn vùng bán đảo Đông Dương. Chính quyền Nhật đã cho tổ chức hai kỳ triển lãm tranh, với mục đích quảng bá văn hóa Nhật Bản với công chúng Việt Nam. Một ở Hanoi vào đầu tháng 11 năm 1941 và một tại Saigon chưa rõ thời gian, nhưng có thể là Tháng 12 năm 1941, tiếp theo kỳ triển lãm ở Hanoi. Cả hai kỳ triển lãm, họa sĩ Tsuguharu Foujita là người được chính quyền Nhật giao trọng trách vẽ theo yêu cầu để lấy tiền gây quỹ.

         A – Kỳ triển lãm tranh ở Hanoi. Tháng 11 năm 1941.

  Có hai bằng chức xác thực. Bìa quyển catalogue và bức Foujita ký họa họa sĩ Nam Sơn.


 

B – Kỳ triển lãm tranh ở Saigon. (Chưa rõ ngày tháng. Rất có thể vào tháng 12/1941) 

       Kỳ triển lãm tranh ở miền Nam được trưng bày tại Dinh Xã Tây (hotel de ville Saigon, UBND Tp HCM hiện nay). Và bức người phụ nữ Nam Bộ được thực hiện trong kỳ triển lãm này.

      Kỳ triển lãm tại Saigon năm 1941, được cho là thành công vì theo ông Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu và sưu tầm về men lam Huế cho biết, ông đã từng đi xếp hàng nhờ Foujita vẽ cho một bức con mèo. điều này chứng tỏ kỳ triển lãm đã thành công vì có rất đông người tham dự. Nhưng chẳng hiểu vì sao không thấy báo chí hay sách vở nào của miền Nam khi đó loan tin nhắc nhở gì đến. Hiện nay dấu vết của kỳ triển lãm năm 1941 ở Saigon này cũng rất ít thấy, ngoài 02 quyển catalogue và bức con mèo của Vương Hồng Sển (chỉ nghe nói). Thậm chí 2 quyển catalogue dưới đây cũng không dễ tìm.

                                    
Bìa 2 quyển catalogue triển lãm tranh năm 1941 giới thiệu nền mỹ thuật Nhật Bản với quần chúng Việt Nam. Quyển bên trái có chữ ký sống của Tsuguharu Foujita.

     a/ Bức ký họa chân dung người phụ nữ Nam Bộ nơi trang notes.

          Mặc dầu Foujita không ký trực tiếp vào bản ký họa truyền thần người phụ nữ Nam Bộ nơi trang notes nhưng chữ ký sống bằng bút máy của Tsuguharu Foujita ngoài bìa quyển catalogue đã khẳng định là bức ký họa truyền thần ở trang notes là do ông vẽ chứ không thể của ai khác.

                                
Chữ ký sống bàng bút mực của HS. Foujita ngoài bìa và bức ký họa truyền thần bằng bút chì ở trang notes.


  b/ ChatGPT chuyển thể qua ảnh chụp.


ChatGPT chuyển thể bức ký họa người phụ nữ Nam Bộ ở trang notes thành ảnh chụp.


  II/ HỌA SĨ NGUYỄN SÁNG (1923-1988).

Chân dung họa sĩ Nguyễn Sáng (Nguồn. Tuoi Tre online)

a/ Bức ký họa truyền thần của họa sĩ Nguyễn Sáng.

     Trong kỳ triển lãm tranh và có vẽ chân dung do Ban Mỹ Thuật trường Đai học Đông Dương đứng ra tổ chức vào Tháng 01 năm 1944 tại Hanoi. Nguyễn Sáng được BTC chọn và giao cho trọng trách vẽ chân dung truyền thần cho khách tham dự để lấy tiền gây quỹ cứu trợ đồng bào bị nạn bom vì phi cơ Đồng Minh đánh vào ga xe lửa Gia Lâm Hà Nội cuối năm 1943.

     Người mẫu chưa rõ là đi với ai để đến tham dự kỳ triển lãm, nhưng chắc chắn là đã có sự đóng góp vào quỹ cứu trợ nên đã được Nguyễn Sáng thực hiện bức chân dung để làm kỷ niệm. Trong phần thích danh ở góc phải dưới bức tranh. Nguyễn Sáng đã ký đè lên con dấu đóng khống bằng mực đỏ của BTC chỉ rõ mục đích của kỳ triển lãm này.


Thiếu nữ. Fusain trên giấy ở Hanoi Tháng 01 năm 1941.

 

b/ ChatGPT chuyển thể thành ảnh chụp.



III/ HỌA SĨ NGUYỄN ĐỨC NÙNG (1914-1983).

Chân dung họa sĩ Nguyễn Đức Nùng (Nguồn: Le Auction)


a/ Bức ký họa truyền thần của họa sĩ Nguyễn Đức Nùng,


Chân dung thiếu nữ, bút sắt và phấn tiên trên giấy.

        Bức ký họa của Nguyễn Đức Nùng được cho là vẽ tại Huế vì dựa theo tiểu sử của ông:

  -   Năm 1941 họa sĩ Nguyễn Đức Nùng đã gia nhập École Française d’Extrême-Orient (Viện Viễn Đông Bác Cổ) và tham gia vào việc tu bổ di tích tại Huế.

    -      Từ năm 1945 – 1946, ông tham gia cách mạng, là Trưởng ban Hội họa Đoàn văn hóa cứu quốc Thừa-Thiên Huế.

      Những điều này chỉ rõ họa sĩ Nguyễn Đức Nùng đã từng sống ở tỉnh Thừa-Thiên Huế chí ít cũng phải từ năm 1941 cho đến năm 1946. Trong bức ký họa chân dung người phụ nữ bằng bút sắt và phấn tiên HS. Nguyễn Đức Nùng ghi vẽ vào tháng 6 năm 1944, Như vây chắc chắn bức ký họa truyền thần này vẽ ở Huế khi ông cộng tác với nhà biên kịch Đoàn phú Tứ chứ không thể ở đâu khác và bức ký họa này được dùng làm phụ bản cho tập chương trình giới thiệu khái quát vở hài kịch “Ghen”.     

     Chưa rõ vở hài kịch “Ghen” của đoàn Phú Tứ có mở cửa trình diễn đúng với thời gian ấn định ghi trong tập bản thảo không mà chẳng hề thấy tài liệu hay báo chí nào đưa tin về buổi diễn kịch vào tối ngày 10/6/năm 1944 này, cũng như không thấy bất kỳ một bản in typo nào của tập chương trình vở kịch Ghen lưu vết trong cộng đồng xã hội? Phải chăng buổi diễn vở hài kịch Ghen vào Tháng 10/1966 đã bị hoãn hoặc hủy bỏ vì tình hình chiến sự ở Đông Dương đang hồi khốc liệt?

       (Theo nguồn Wikipedia. vở kịch Ghen đã được công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội vào đêm 13 tháng 3 năm 1947).  

      Cũng không rõ họa sĩ Nguyễn Đức Nùng đã dựa vào nhân vật nữ nào có sắm vai trong vở kịch để thực hiện bức ký họa truyền thần này,

-          - Bà Bửu Chi, hiệu Chi Mai vào vai Kim

-        -  Bà Nguyễn Đức Nùng, hiệu Kiều Tân vào vai Liên.

- Bà Thanh Hương vào vai bà Tâm. 

Danh sách các nhân vật thật vào vai trong vở kịch Ghen của Đoàn Phú Tứ.

 

b/ ChatGPT chuyển thể thành ảnh chụp.


  

IV/ NHẬN ĐỊNH VỀ 3 BỨC CHUYỂN THỂ.  


Chân dung 3 người phụ nữ Việt Nam vào đầu thập niên 40/TK.20. Mặc dù là ký họa nhưng các họa sĩ đã mô tả được rất rõ về phong cách và đặc tính vùng miền của tùng nhân vật.

    Cũng phải nói rõ một điều. Mặc dù là những đường nét ký họa nguệch ngoạc đơn giản như thế đó nhưng nó lại chứa đựng cả một sức nặng của thần thái, của phong cách, của đặc tính vùng miền rất rõ nơi tùng nhân vật. Cũng nhờ đó mà ChatGPT đã chuyển thể thành công.

       

                 

        ChatGPT chuyển thể 3 gương mặt mỹ nhân từ ký họa sang ảnh chụp.


      Cả 3 đều do ChatGPT chuyển thể từ những bức ký họa sang ảnh chụp bằng công nghệ dựng hình hiện đại. Chưa rõ đã đạt được cái thần thái thực ngoài đời của nhân vật là bao nhiêu, nhưng ít nhiều gì nó cũng phản ảnh cho ta thấy được phần nào chân dung đích thực của người mẫu ở một góc độ nào đó buộc phải chấp nhận vì không thể làm khác. Và nếu như không có bức ký họa đặt bên cạnh để so sánh, chắc chắn sẽ chẳng có ai tin là những bức ảnh này đã được tái hiện từ những bức ký họa truyền thần.

Tóm lai:

- Với cô gái miền Bắc của chàng sinh viên năm IV tài hoa Nguyễn Sáng. Hình ảnh của một thiếu nữ đôn hậu, khả ái, đài các của giới thượng lưu Hanoi.

- Với cô gái miền Trung của họa sĩ đã thành danh nức tiếng Nguyễn Đức Nùng. Một phong cách đĩnh đạc, sắc xảo, kiêu sa và lịch lãm đầy cá tính của vùng đất Cố Đô Huế.

Với cô gái miền Nam của họa sĩ người Nhật Bản lừng danh khắp năm châu. Tsuguharu Foujita. Gương mặt biểu lộ sự chất phác, nhu mì và hiền hậu. Biểu trưng cho con người sinh ra và sống trên vùng đất Nam Bộ hiền hòa trù phú được thiên nhiên ưu đãi.

     Mặc dù là tác phẩm ký họa truyền thần của 3 nhân vật. Hai người đã thành danh và một còn đang theo học năm thứ IV. Cả ba ra đời không cùng một thời điểm. Ở ba vùng miền khác nhau của đất nước Việt Nam, nhưng vẫn cho thấy ở đó chứa đựng một tinh thần nghệ thuật không ngừng sống và ghi nhớ, một nhịp nối giữa nghệ thuật và dân sinh luôn mang niềm tin yêu chan hòa của cái mỹ đến mọi người, bất kể biên giới.

Cauminhngoc
04/8/2025  
       






Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2025

Nhà thơ Phan Lạc Tuyên qua cái nhìn của họa sĩ Tạ Tỵ.

    Nhà thơ Phan Lạc Tuyên qua cái nhìn của họa sĩ Tạ Tỵ.


                                          Trên bản kẽm & in ra giấy.
                              
      Chân dung Phan Lạc Tuyên do họa sĩ Tạ Tỵ khắc bản trên kẽm để minh họa cho bài viết trong tờ báo nội san của đơn vị vào năm 1956.                      
  
    Dựa theo hình ảnh trên bản khắc và in cho thấy họa sĩ Tạ Tỵ có cái nhìn rất tinh tế và sâu sắc. Ông đã mô tả chuyện “lưỡng mục bất đồng” của nhà thơ Phan Lạc Tuyên bằng cách tạo hình hai con ngươi, một lớn và một nhỏ và chúng hơi giãn lệch nhau về phía đuôi mắt. Thật tuyệt.

Sự kết hợp giữa 2 tác phẩm của HS. Tạ Tỵ và nhà thơ Phan Lạc Tuyên.

Bút tích của ông Phan Lạc Tuyên ghi trên khối đá lâu ngày đã bị phai mờ dần theo thời gian (1956-2025) trải qua 69 năm.


       Ông Phan Lạc Tuyên cũng cho biết. Chính ông đã tự điêu khắc nổi hình ảnh bàn chân trái lên khối đá bọt và sử dụng khối đá đó làm chân đế cho tác phẩm chân dung của mình do họa sĩ Tạ Tỵ khắc tặng làm kỷ niệm. Ông cũng bày tỏ sự hào hứng với cái tên “Bước chân giang hồ” mà ông đã đặt cho nó.

       Nhà thơ quân đội Phan Lạc Tuyên cũng đã giải thích tại sao ông lại chọn bàn chân trái mà không là bàn chân phải. Theo ông. Chân trái gần như trở thành thói quen đối với một quân nhân. Nó được quy định luôn là động tác căn bản đầu tiên trong chuyển dịch thao diễn quân sự. Điều mà ông đã cùng nó lặn hụp ngay từ khi chân ướt chân ráo bước vào quân trường nơi đào tạo Sĩ quan trừ bị khoá I Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Cũng từ thói quen nhà binh bất dịch này mà ông chọn bàn chân trái làm chủ đề ẩn chứa lý tưởng tung hoành của mình...

     Theo lời Tạ Tỵ. Cả hai vị cũng đã từng cộng tác với nhau một thời gian không lâu trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị của Việt Nam Cộng Hòa. Tính huynh đệ chi binh ở mức độ vừa phải không quá thân thiết cũng như không quá xa lạ.

       Sau quá trình giao tiếp nhiều lần, ông mới đồng ý chuyển giao kỷ vật “2 trong 1” này lại cho người viết. 

       Được sở hữu một kỷ vật có sự gắn kết giữa 2 nhân vật tên tuổi trong lịch sử và văn học nghệ thuật ở miền Nam Việt Nam ở vào giữa thế kỷ 20 cũng là một điều thú vị không phải dễ tìm.


      Tạ Tỵ nói về Phan lạc Tuyên.

      Nơi tôi làm việc [ bây giờ ]  có thêm 1 nhà thơ, đó là đại úy Phan Lạc Tuyên. Tác phong của Phan Lạc Tuyên  rất nhà binh. Anh thay Đỗ Tốn trông  nom tờ TIỀN PHONG. Phan Lạc Tuyên dáng ngưởi hơi mập, đặc biệt mắt lé; nhưng không đến nỗi nào! Tính tình hơi khô khan một chút, nhưng có lòng với anh em. Anh sống cuộc đời lính chiến đấu lâu rồi, mới ngồi ở văn phòng, nên đôi khi có hành động hơi cứng rắn. Cái gì không ưng ý, anh nói thẳng, chứ không quanh co, hoặc sợ mất lòng ai hết. Người ta biết tiếng Phan Lạc Tuyên  qua bài thơ TÌNH QUÊ HƯƠNG , được nhạc sĩ  ĐAN THỌ phổ nhạc. Sự giao du giữa tôi và Phan Lạc Tuyên  ở mức độ vừa phải, không thân, không sơ.   Đặc biệt, anh rất mê tranh của tôi. Anh có ghé thăm nhà tôi 1 vài lần, để xem tranh và bày tỏ cảm tưởng về lối vẽ trừu tượng, mà tôi đang thực hiện, dự tính cho cuộc triển lãm sắp tới. Anh ngỏ ý muốn  mua tác phẩm với giá đặc biệt. Tôi đồng ý và chỉ xin mượn lại để trưng bầy khi có triển lãm.
Phan Lạc Tuyên tuy không nói thẳng ra, nhưng qua lời bóng gió, tôi biết anh không ưa chế độ Ngô Đình Diệm. Một hôm, anh lục tủ hồ sơ, vô tình tìm thấy 1 bài viết đả kích ông Diệm, anh biết bài đó ai viết, ở giai đoạn nào. Anh cầm xấp bài, vẫy tôi lại chỗ vắng, bảo:
     - Ông ơi, tôi thấy bài này trong tủ hồ sơ, ông hủy ngay đi, nếu ai biết, chắc ông sẽ không yên thân đâu ?
        Nói xong, anh đưa xấp bài cho tôi. Nhìn chữ viết, không phải là nét chữ của tôi, mà của 1 trong những người thuộc ban biên tập chống ông Diệm dưới thời tướng Hinh – nhưng dù sao, tôi cũng phải chịu trách nhiệm. Tôi cảm ơn Phan Lạc Tuyên, xé nhỏ xấp bài, quăng vào thùng rác phi tang ! Nhưng Phan Lạc Tuyên cũng không làm chung với tôi lâu .   Anh xin được thuyên chuyển qua  đơn vị Biệt động quân, nhưng vẫn ở trong ngành Chiến tranh tâm lý (danh xưng mới của Phòng 5).
     Rồi tình hình chính trị  của miền Nam dưới chế độ Ngô Đình Diệm không còn êm ả nữa. Những đợt sóng ngầm chống đối đã nổi lên, báo trước những gì sẽ xảy ra, nếu chính quyền không khôn khéo sửa đổi cho hợp lòng người. Nhưng ông Diệm quá tin váo sự ngay thẳng của mình, cũng như tinh thần chống Cộng tuyết đối của chế độ, do ông và gia đình điều khiển- nên  mới đưa đên cuộc đảo chính của đại tá  Nguyễn Chánh Thi , tư lệnh Nhảy Dù, và các đơn vị Biệt động quân – trong đó có Phan Lạc Tuyên,  vào 1960.    Cuộc đảo chính thất bại, những tay chủ chốt lên máy báy, qua tị nạn ở  Cao Miên (Campuchia), trong đó có cả Phan Lạc Tuyên.
      Kể từ ngày đó, giữa tôi và Phan Lạc Tuyên  không 1 lần gặp lại. Sau những ngày tháng lưu vong nơi xứ người, không hiểu sao Phan Lạc Tuyên lại đi theo Mặt trận giải phóng, ra Hànội, và được đi Liên Xô học về lịch sử, và có văn bằng phó tiến sĩ. Nhưng theo ý riêng, Phan Lạc Tuyên có đi theo CS, chẳng qua vì không còn con đường nào khác,  đâm lao phải theo là, là vậy!
           (Nguồn Google).

 

    THAM KHẢO

Theo nguồn WikipediA.

        1 - Phan Lạc Tuyên, sinh năm 1930 tại làng Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây.

     Năm 1951, đang học năm 2 trường Luật Hà Nội, ông được trưng tập vào danh sách đào tạo Sĩ quan trừ bị khoá I Quân Đội Quốc Gia Việt nam. Cùng khóa với ông, có nhiều sĩ quan trẻ, về sau trở thành các tướng lĩnh cao cấp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa như: Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Đức Thắng, Bùi Đình Đạm, Nguyễn Bảo Trị, Chung Tấn Cang, Lê Nguyên Khang... 

   Đại úy Phan Lạc Tuyên, người chỉ huy quân sự số 3 trong cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông vào tháng 11/1960, sau đó đã trở thành người của Mặt trận Giải phóng. Trong cuộc đảo chính trên, ông dẫn vài đại đội Biệt động quân về Sài Gòn tham gia. Sau khi thất bại, ông lưu vong sang Campuchia. Tại đây ông đã được Mặt trận Giải phóng tiếp cận. Năm 1963, ông cùng nhóm Biệt động quân thân cận quay về căn cứ của Mặt trận. Sau này ông ra Bắc, đi học ở Ba Lan, trở thành Tiến sĩ sử học, nghiên cứu văn hóa và Phật học.

Bìa bản nhạc Tình quê hương. Thơ: Phan Lạc Tuyên. Phổ nhạc: Nhạc sĩ Đan Thọ. Nhã xuất bản: Tinh Hoa. (Nguồn: Goolge)

Một số bài thơ do ông Phan Lạc Tuyên sáng tác: Áo mùa - Áo tím mùa sim - Dâng mùa - Đường lên Tây Bắc - Mùa xuân lịch sử - Những hoàng hôn tím - Sầu tư bộ lạc - Tình quê hương - Vễn xứ. (Nguồn Thi Viện).


       2 - Tạ Tỵ, sinh ngày 3 tháng 5 năm 1921, tại Hà Nội.

-        Năm 1943, ông tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

-        Năm 1946, chiến tranh nổ ra giữa Việt Nam và Pháp, Tạ Tỵ cùng với nhiều họa sĩ Việt Nam khác, đã tham gia mặt trận Việt Minh chống Pháp và ông là người thầy dạy mỹ thuật đầu tiên trong Liên khu 3.

-        Bắt đầu từ đầu thập niên 1950, ngoài tài vẽ chân dung hí họa, ông còn sáng tác trên nhiều lĩnh vực khác, như: truyện, thơ, kịch bản, bút ký...

-        Năm 1951, ông triển lãm 60 bức tranh tại Hà Nội.

-        Sau 1954, ông vào Nam và sống ở Sài Gòn. Ở đây ông đã phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc sau cùng là Trung tá trong Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

-        Năm 1956, ông triển lãm hơn 60 bức tranh đầu tiên tại Sài Gòn. Năm 1961, ông triển lãm lần thứ hai 60 bức tranh lập thể và trừu tượng cũng ở nơi đó.

-  Vào đầu thập niên 1960, Tạ Tỵ vẽ một loạt 50 chân dung của các nhân vật văn nghệ miền Nam Việt Nam. Đây là loạt tranh chân dung đầu tiên thể hiện những cá nhân độc đáo, trong một phong cách đặc biệt. Sự phối hợp truyền thần và phong cách Lập thể, những mảng màu tương phản gắt gao cắt nhau, nhằm bộc lộ cá tính và nghề nghiệp của nhân vật.

Catalogue triển lãm tranh năm 1951 và thủ bút của họa sĩ Tạ Tỵ.     
Cauminhngoc
31/5/2025                                    

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2025

Giới thiệu thanh gươm thời nhà Nguyễn.

      

         GIỚI THIỆU THANH GƯƠM THỜI NHÀ NGUYỄN.

Biên nhận với thủ bút của GS. Phan Lạc Tuyên viết năm 1999.


       Thanh gươm được cho là có niên đại vào thời Nhà Nguyễn (1804-1945). Chưa thể khẳng định chính xác như thế nào, nhưng nhìn vẻ bên ngoài cho thấy thanh gươm được bảo quản khá tốt và tự thân toát lên vẻ cổ kính rất đáng trân trọng.

                                           





                   I - TỔNG QUÁT .                                         

                                 
Hình 01

Hình 02


Mô tả:

-        Thanh gươm tính cả vỏ dài: 755mm. Nặng: 800gram

      -        Thanh gươm không tính vỏ dài: 730mm. Nặng: 500gram 

-        Vỏ gươm nặng: 300gram. 


II – CHI TIẾT.


      A – Lưỡi thép.

         
Hình 3 

Hình 03bis


-        Lưỡi gươm luyện bằng thép dài. 585mm. Không kể hộ thủ và chuôi. Hơi dẻo nếu có lực uốn ngang. 

-        Bản diện lưỡi thép, sát lưỡi hộ thủ rộng: 30mm. Ra giữa còn: 22mm. Trên bản diện có vét một rãnh máu dài: 515mm, ngang: 08mm, chạy dọc theo thân, dừng lại khi cách mũi gươm: 50mmMặt thép cho thấy đã trổ đồi mồi toàn diện.  

-        Sống gươm chỗ sát lưỡi hộ thủ dày: 07mm. Giữa dày: 02mm. Cuối rãnh máu dày: 01mm được tôi luyện mỏng dần về mũi.

-        Chân lưỡi gươm có ốp một yếm đồng, dạng ống dẹp, chiều rộng: 30mm, dài: 20mm. Gáy: 07mm ôm chặt chân gươm.

-        Giữa chân gươm và lưỡi hộ thủ có chèn thêm hai miếng đệm bằng kim loại mỏng, hình quả xoan nằm ép sát nhau có kich thước: Dọc: 32mm. Ngang: 20mm, mục đích chêm cho lưỡi thép vững chắc không bị lỏng lẻo.

-        Lưỡi gươm có dấu hiệu rỉ sét vì lâu ngày nhưng còn rất sắc bén. Khi mài sẽ sạch và sáng lại ngay.

 

    B - Chuôi gươm:



                                                                                
Hình 04

                                                     

Hình 05



Hình 06



    1 - Chuôi gươm: Chuôi gươm được làm bằng sừng, dáng tròn hơi cong giống quả chuối cau. Đường kính: 30mm, thon dần về phía đầu sư còn: 23mm. Chiều dài kể cả lưỡi hộ thủ là: 145mm. Trừ yếm hai đầu. cán sừng còn dài khoảng: 73mm.

2      - Chất sừng ở chuôi có dấu hiệu khô đanh để lộ ra những gân chỉ chạy dọc theo chuôi. Mặt sừng lỳ không bóng, có độ nhám nhẹ không nhẵn mịn.

3      - Sắc độ trên thân chuôi gươm có sắc độ không đều. Màu trên sống xậm hơn so với phần dạ chuôi. Tổng thể màu sắc của chuôi gươm tương cận với màu gỗ nâu gụ của vỏ gươm.

4      - Trên sống chuôi có một rãnh nứt hở rộng cỡ: 01mm, dài: 30mm, hai mép hơi cộm lên.    

5      - Đốc gươm có yểm một yếm (mũ) đồng khối rỗng, đúc hình đầu sư chạm trổ rất tinh xảo. Kích thước: Cao: 43mm, dọc từ mũi con sư đến gáy: 35mm, ngang hai bên má con sư: 23mm. Cổ con sư chố tiếp giáp với chuôi sừng có đường kính: 22mm

6      - Một đai ống tròn nằm sát lưỡi hộ thủ ôm chân chuôi kiếm, nở đầu thon đuôi. Có đường kính đầu: 33mm. Đuôi: 30mm. Dài: 27mm. Giữa thân đai có lận gân nổi chia ống làm hai phần. Trước dài: 15mm. Sau dài: 12mm. Đai yểm chân chuôi gươm có mục đích giữ cho chuôi và lưỡi gươm thêm chắc chắn.

 

C – Hộ thủ:

   Phần hộ thủ là một lá đồng nhìn như một cái lưỡi, giống hình chữ “L” lật ngửa, ngăn giữa lưỡi thép và chuôi có độ dày: 02mm. Mục đích để bảo vệ cho bàn tay. Lưỡi hộ thủ chia làm 2 phần chính:

-        Phần thứ nhất tính từ chóp lưỡi xuống đến chỗ đáy cong dài: 125mm.

     -    Phần thứ hai từ đáy cong lượn đến cằm con sư dài: 110mm.

   

Hình 07

    Hình 07bis



         a/ Phần thứ nhất được phân làm 3 đoạn: Đầu, giữa và chân.

-        Đoạn đầu tính từ chỏm lưỡi đến sống gươm, cao: 50mm. Tiết diện nhỏ đầu rồi nở đều về giữa, bề ngang lớn nhất là: 35mm và đầu hơi cong nhẹ về phía mũi gươm. Tiền diện hướng mũi gươm để trơn. Hậu diện hướng về đốc kiếm có chạm hoa văn chìm.  

-        Đoạn giữa từ sống trên xuống đáy bụng lưỡi có chiều cao cỡ: 33mm, bề ngang là: 40mm. Nơi đây có khoét một cái lỗ để tra chân lưỡi gươm chui qua và cắm vào chuôi sừng.

-        Đoạn chân. Đoạn này tính từ dạ lưỡi gươm đến ngay chỗ cong cao: 42mm. Bề ngang chỗ cong là: 30mm.

 

     b/ Phần thứ hai, tính từ góc cong đến cằm đầu sư dài: 110mm. Đây là một lá đồng dài, bề ngang ngay góc cong: 30mm. Từ đây được bóp nhỏ dần xuôi về phía sau gắn vào cằm con sư chỉ còn: 07mm, tạo thành một vành cung. Mặt bên ngoài có khắc hoa văn chìm. Mé bên trong để trơn. 

  

D – Vỏ gươm.


Hình 08


                             
Hình 09

                     

  Vỏ gươm được chế tác bằng 2 thanh gỗ quý ốp lại. Vành miệng: 40mm x 20mm, rỗng ruột để tra lưỡi gươm vào. Gỗ có màu nâu gụ đã lên nước bóng và ửng nhiều vân gỗ tự nhiên. Trên thân vỏ có một yếm yểm miệng vỏ, một yếm yểm mũi vỏ và 2 đai đồng giữ cho vỏ gươm dính cứng vào nhau.

  a/ Yếm đồng yểm miệng vỏ gươm làm bằng đồng để trơn dài: 60mm, ngang: 35mm. Sát miệng vỏ có viền 2 gân nổi và phía dưới chân có tạo hình gợn sóng.

  b/ Đai thứ nhất nằm ở giữa vỏ gươm dài: 60mm, ngang: 35mm. Hai đầu miệng có tạo hình gợn sóng ngậm vỏ gươm.

  c/ Đai thứ hai nằm sát yếm yểm mũi vỏ dài cỡ: 25mm, ngang: 30mm. Hai đầu đai đều tạo hình gợn sóng.

   d/ Trên yếm yểm miệng vỏ và hai đai thân vỏ, trên sống mỗi thứ đều làm nhô lên một cái kỳ có chiều dài tương ứng với chiều dài của yếm hoặc đai, trên mỗi kỳ đều được khoét một lỗ nhỏ có đính khoen đồng để móc dây đeo.

  e/ Yếm yểm mũi vỏ gươm làm bằng đồng dạng sừng mũi nhọn dài: 145mm. Bề ngang miệng: 32mm, có thiết kế 4 lá ngậm thân vỏ. Toàn thân yếm chạm vảy cá xuôi ngược nằm song song sát nhau, 



III - LÝ LỊCH.



Lý lịch thanh gươm.



Cauminhngoc

20/4/2025