Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

HS.NGUYỄN ĐẠO HƯNG VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN QUA CÁC BỨC TRANH ĐỒ HỌA CÓ KÍCH THƯỚC NHO NHỎ.


 Lý lịch trích ngang được tìm thấy trong " Kỷ yếu Hội Nghệ Sĩ Tạo Hình Việt Nam. 1957 - 1992. Xuất bản năm 1994.      
  •       Đồ họa in ấn, là khái niệm dùng trong ngành Mỹ thuật. Đây là quá trình sáng tác hình ảnh (tạo hình) một cách gián tiếp, đưa màu từ một khuôn in sang một bề mặt khác. Vì có khuôn in, nên tác phẩm đồ họa thường có nhiều bản sao tùy ý họa sĩ.  Vật liệu dùng làm khuôn in thường là ván gỗ, đá, kim loại, vv.. Trong đồ họa in ấn, họa sĩ có thể sử dụng con lăn (brayer), và cả các loại máy in lớn. Các kỹ thuật in đồ họa.
  • 1 - Khắc gỗ.
  • 2 - Khắc axít.
  • 3 - In thạch bản.
  • 4 - In lưới hay in lụa.
  • 5 - In độc bản.
  • 6 - In khắc ngòi khô.
  • 7 - Khắc nạo.
  • 8 - In sáp.
    • ( Nguồn Wikipedia )


     Trong các kỹ thuật in đồ họa nêu trên. Kỹ thuật in bản gỗ dễ mà lại khó hơn các chất liệu khác. Dễ vì chất liệu gỗ dùng khắc bản không khó tìm. Vật dụng để khắc rất đơn giản, dễ sử dụng. Không lệ thuộc nhiều vào những yếu tố hỗ trợ kỹ thuật. Khó là không thể chi tiết hóa những hình thể. Bản gỗ khuôn dễ bị sứt mẻ. Khi in chồng màu đòi hỏi độ chính xác từ những mảnh gỗ khác nhau mang tính chất riêng cho mỗi màu. Lúc vỗ màu vào khuôn trước khi in để tạo sự chuyển sắc cho bản in linh hoạt, uyển chuyển, không khéo rất dễ bị phô, cứng không đẹp. Thông thường các họa sĩ hay dùng kỹ thuật khắc gỗ, in đá cho tác phẩm của mình...



TRANH KHẮC GỖ MÀU CỦA NGUYỄN ĐẠO HƯNG VÀ NHỮNG NGƯỜI BẠN.

    Những bản in gỗ màu của họa sĩ Nguyễn đạo Hưng và những người bạn thân của ông nơi đây cho thấy những bản in có màu sắc rất tươi nhuận, rực rỡ. Các tác giả hầu như ít sử dụng đường viền để định dạng sự vật mà chỉ dùng sự hòa sắc chồng, lấn. Tác giả tận dụng sự phối sắc tự nhiên khi các màu giao thoa với nhau qua nhiều lần vỗ bản hình thành những sắc độ lạ lẫm, mãnh liệt, rất thu hút người thưởng lãm.....

NHỮNG NGƯỜI BẠN CỦA HS. NGUYỄN ĐẠO HƯNG.

                               Hình 01.  Họa sĩ chưa rõ. Nguyện cầu. Khắc gỗ màu trên giấy.
                                                         Kích thước: 15.5cm x 21cm.

                                         
     Hình 02 - Kim Xuyên. Tĩnh vật hoa. Khắc gỗ màu trên giấy. Kích thước: 17.5cm x 22.5cm.


                                       
           Hình 03 - Họa sĩ chưa rõ. Tĩnh vật hoa. Khắc gỗ màu trên giấy. Kích thước: 19cm x 26cm.


                                 
 Hình 04 -  Họa sĩ chưa rõ. Mẹ và con thời chiến. Khắc gỗ màu trên giấy. 
Kích thước: 19.5cm x 22.5cm.


     Hình 05 - Họa sĩ chưa rõ. Tĩnh vật hoa. Khắc gỗ màu trên giấy. Kích thước: 15.5cm x 21cm.



                                     TRANH ĐỒ HỌA CỦA HS. NGUYỄN ĐẠO HƯNG.

         Hình 01 - Nguyễn đạo Hưng. Đôi mắt. Khắc gỗ màu trên giấy. Kích thước: 15.5cm x 17cm.



Hình 02 - Nguyễn đạo Hưng. Tĩnh vật hoa. Bản vẽ gốc bằng màu nước. Kích thước: 18.5cm x 23cm.



               
   Hình 02/1. Nguyễn đạo Hưng. Tĩnh vật hoa. Khắc gỗ màu trên giấy. Kích thước: 19.5cm x 25.5cm.
                              Bản in gỗ dựa theo bản gốc vẽ màu nước ở phía trên.




                           
             Hình 03 -  Nguyễn đạo Hưng. Hãy nhớ lấy thù này. Khắc gỗ màu trên giấy.
                      Kích thước: 19cm x 27cm. Năm 1959.




                              Nguyễn đạo Hưng.  Nâng cao năng xuất lao động.
               Có 03 tấm, thể hiện qua từng công đoạn khắc gỗ màu trên giấy. Năm 1970.


                                      Hình 04/1 -   Bản vẽ gốc. Kích thước: 21.5cm x 28.5cm.


                               Hình 04/2 -   Bản lược màu. Kích thước: 27cm x 28.5cm.



                         Hình 04/.3 -   Khắc gỗ mực đen trên giấy. Kích thước: 27cm x 28.5cm.


                 GIỚI THIỆU MỘT SỐ TÁC PHẨM IN ĐỒ HỌA PHỔ THÔNG XƯA VÀ NAY.



                                                                  TRANH IN KẼM.


                       
                 Hình 01 -  Cảng Pausilype. Bản in kẽm trên giấy dày của R. Daudet Thế kỷ 18.


                                                                                                                                                                                                       
               Hình 02 -  A. Joyeux. Cuộc đời Đức Phật. Bản in kẽm trên giấy. Thập niên 30/ TK 20.
             Giám đốc đầu tiên Trường Gia Định từ năm 1913 đến 1926.




     Hình 03 - Tạ Tỵ. Chân dung Phan lạc Tuyên. Bản kẽm ( trên ) và bản in tên giấy ( dưới ). 1956

                                                               

                                                                 TRANH IN ĐÁ.


                                       Hình 04 -  Họa sĩ Lê Yên. Phật A Di Đà. Litho màu. 1983.


                                  Hình 04bis.    Bút tích của HS. Lê Yên đề tặng bạn.
               Họa sĩ Lê Yên. Từng làm Giám đốc Trường Mỹ thuật Ga Định. Từ năm 1971-1973.



Hình 05 - Họa sĩ. J.G. Besson. Cửa Thượng Tứ. Huế.  Litho. 1935.



       Hình 06 - Họa sĩ G. Severeyns. Trái lê. Kỹ thuật in Chromolith. Năm 1883. 
    Một trong 24 bản minh họa đính kèm theo sách. " Revue Horticole ". Năm 1883. 



                                           Hình 07 - Họa sĩ Lê thanh Trừ. Lăng cổ. In thạch cao. Năm 1992.



                                Hình 08 -  Lão tử cỡi trâu.  Tranh in đá Trung Quốc tô màu tay. Cuối TK 20.


                         Hình 09 -  Họa sĩ Ngọc Dũng. Thiếu nữ. Litho. Minh họa báo Xuân 1968.

TRANH IN LỤA.

Hình 10 - Hoa cúc vàng. In lụa. 1974.


Hình 11 - Hoa đào. In lụa. 1974.

Hình 12 - Họa sĩ Trần hiển Quang. Ba cô gái Việt Nam. In lụa. Năm 1974.



                                                              TRANH KHẮC GỖ.

                               Hình 13. Họa sĩ Tạ Tỵ. Mẹ và con mùa nước lũ. Khắc gỗ. 1964.

                                                                        
             Hình 14. Họa sĩ Nguyễn tường Lân. Vầng trăng ai xẻ...Khắc gỗ màu. Năm 1942.


            Hình 15 - Họa sĩ A tich Trù. Nhạc sĩ Lê Thương. Khắc gỗ. Trên giấy báo. năm 1949.
              (Nền đã qua xử lý màu).



                      Hình 16 -  Họa sĩ Phạm Lực. Cô gái với chiếc đèn dầu. Khắc gỗ màu. Năm 1978.


                      MỘT TRANG SÁCH CÓ IN MINH HỌA BẰNG BẢN GỖ VÀ KẼM.


                                                   01 - Bản khuôn gỗ.

                                                    02 - Bản khuôn kẽm.


                                   02bis - Một trang sách có minh họa hình ảnh bằng khắc gỗ.


                                                    04 - Bản khuôn kẽm và trang sách.



                                                                    THỦ ẤN HỌA.


                      Hình 01 - Họa sĩ  Tú Duyên. Ngày nay...Thủ ấn họa trên lụa. Tập niên 60/ TK 20.



                      Hình 02 - Họa sĩ Huỳnh văn Mười. ( Uyên Huy ). Mẹ và con. Thủ ấn họa.


       
Cauminhngoc.
01/11/2014.

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2014

HỌA SĨ LƯƠNG VĂN TỶ VÀ TÁC PHẨM TĨNH VẬT VỚI NỀN XANH COBALT.

   
    Họa sĩ Lương văn Tỷ. Tĩnh vật với nền xanh cobalt. Sơn dầu trên carton. Kích thước: 40cm x 50cm. Năm vẽ: 1960. Chữ ký đáy góc phải.
 ( Tác phẩm tham dự triển lãm Mỹ thuật nhân dịp lễ Quốc Khánh 26 – 10 – 1960 ).

    Với một tác phẩm. Khó mà xếp Họa sĩ Lương văn Tỷ vào trường phái nào! . Trước mắt ta chỉ có thể cảm nhận được việc họa sĩ Lương văn Tỷ đã dùng màu xanh cobalt ở những biên độ cận sắc để biểu diễn cảm xúc của mình trên một diện tích rộng của một họa phẩm. Mọi thứ dàn trải trên khắp tổng thể mặt bằng phông nền tác phẩm là một sự kết hợp giữa sắc và hình rất phong phú, đa dạng qua những nhát bay khoan nhặt và uyển chuyển hòa quyện với nhau thật sinh động. Có thể nói. Cận cảnh nhất là cái mặt bàn. Một mảng sáng khá lớn nằm cắt ngang chất chứa những nhát bay vuốt cùng chiềuBiểu thị mặt chân đế vững chắc cho cái bình gốm xanh đậm có cắm những cành hoa vươn tỏa khoe sắc sáng rỡ, tạo thành những đường phá cách trên nền xanh cobalt thẫm phía sau xa ẩn chứa những nhát vuốt dọc chắc nịch đang thi nhau chảy xuống. Một bố cục tương phản đan kết đằm thắm, không dữ dội giữa mảng màu và đường nét. Không có tách biệt mà chỉ cho thấy một sự giao thoa tích cực, rất vững vàng càng khiến cho những bông hoa thêm xinh xắn nổi bật hẳn, đồng thời cũng làm cho màu Lam Hồi có một sức hấp dẫn đến lạ lẫm... Tác giả đã đặt màu xanh cobalt làm nền mà cũng là màu chủ cho tác phẩm. Với sự phối sắc xẫm nhạt quấn quýt bên nhau rất lung linh. Tối trên sáng dần về phía dưới. Giống như tầm nhìn của đôi mắt, phần bên trên mí mắt bị khuất nên ảnh giác cảm tưởng như bị mờ tối và sáng rõ dần khi ngang tầm mắt.  Một cách bố cục sắc độ có cùng một gốc màu được đem dàn trải ở phạm vi rộng lớn rất dễ thương. Không chút lạnh lẽo từ màu xanh cobalt trải rộng này mà chỉ khiến người thưởng lãm ngỡ ngàng như vào một chiều không gian sâu thẳm mông mị, lung linh, tươi mát trong thế giới thuần sắc trong veo xanh ngắt của đá quí, của bầu trời và biển cả trầm hùng...Cũng không có gì quá đáng khi nói rằng tác phẩm này là sự minh chứng cho khoảnh khắc nắm bắt tuyệt vời nhất, sinh động nhất từ sự dâng trào sắc màu trong tâm thức người nghệ sĩ đã được chính họ tiếp thụ, biến nó thành tác phẩm để mọi người cùng chiêm ngưỡng. Một cách chơi màu, phối sắc thật trình độ và thâm thúy. Không chút cầu kỳ, không đa sắc phồn tạp nhưng vẩn đủ sức hấp dẫn người thưởng ngoạn. Có lẽ những bông hoa chủ thể trong tác phẩm này sẽ trở thành héo úa bởi chính màu sắc tự thân nó khi đứng bên những gam màu khác. Và uy lực của màu Lam Hồi nơi đây cũng làm cho người kiến trải cảm thấy thèm khát, thích thú để rồi chợt nhớ đến những họa tiết có sắc xanh đậm đà ửng rực lên dưới lớp men óng ả, bóng nhẫy từ nơi những cái bình, tô, chén, tách trà xưa cũ..v..v... từ những vật gia dụng quen thuộc đâu đó trong nhà...
     Rất ít họa sĩ VN dùng màu xanh cobalt này trong tranh với một diện tích quá lớn như tác phẩm này. Có lẽ họ ngại cho việc sử dụng nó. Nếu không khéo sẽ dẫn đến sự trơ trẽn cũng như chuyện tác phẩm bị nhấn chìm bởi màu xanh cobalt này.

    
      Màu cobalt là màu xanh lam. Ở Việt Nam còn gọi là màu “ Lam Hồi ”. Sắc xanh của nó cho cảm giác lạnh. Thường nhìn thấy phần lớn trên các vật liệu gia dụng như: Đồ gốm, sứ, thủy tinh, kiếng..v..v.. và phát triển rất mạnh trong kiến trúc ở các quốc gia Hồi giáo.

                                   Ngôi đền Shah. Iran. ( Nguồn. Google ).
    
     Ở Trung Quốc khi bị nhà Nguyên thống trị ( 1271-1368 ). Màu xanh này được dùng để trang trí, vẽ lên các vật gia dụng rất phổ biến, kéo dài cho đến tận đời Thanh ( 1644-1912) qua đến hiện tại. Mặc dầu đã bị giảm sút nhiều.

                                Thiên Đàn. Trung Quốc.( Nguồn. Google ).


                                             Đồ Sứ. Thời Nguyên Minh.  ( Nguồn. Google ).


                                           Chóe sứ. Vẽ hoa Anh túc. Cao: 36cm. Đời Thanh.



                         Bình sứ có dạng tứ giác xéo. Vẽ hai mặt. Ám long và sơn thủy. Cao: 33cm. 


     Riêng nước Nhật ở vào những thập niên gần cuối thế kỷ thứ 18. Các họa sĩ thuộc giòng tranh Ukiyo-e, cũng hay sử dụng màu Lam Hồi này trong tranh. Tiêu biểu cho giòng tranh này có: Hiroshige, Hokusai, Shuncho, Utamaro…


Hiroshige. Phong cảnh. Thể loại Ukiyo-e. Thế kỷ 18.


                                      Hokusai. Thiếu nữ soi gương. Thể loại Ukiyo-e. Thế kỷ 18.


                                   Shuncho. Thiếu nữ và con mèo. Thể loại Ukiyo-e. Thế kỷ 18.


                                   Utamaro. Thiếu nữ và cây quạt. Thể loại Ukiyo-e. Thế kỷ 18.
     

    Từ khi có sự giao thương Đông Tây. Loại tranh Ukiyo-e của Nhật Bản xâm nhập vào lãnh vực sưu tập. Cách tạo hình và màu sắc nguyên thủy đã ảnh hưởng mạnh đến tầng lớp họa sĩ phương Tây và sản sinh ra trường phái Dã thú ( Fauvism )?  Họa sĩ Matisse. Một trong những người đại diện cho phái Dã Thú, sử dụng màu cobalt trong tranh nhiều nhất…


                                        Hai tác phẩm của H.Matisse. ( Nguồn. Google ).

   



 Họa sĩ Lương văn Tỷ. Tĩnh vật với nền xanh cobalt. Sơn dầu trên carton. Kích thước: 40cm x 50cm. 
Năm vẽ: 1960. Chữ ký đáy góc phải.


Cauminhngoc   
23/10/2014.