Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

Nguyễn Sáng với "CÔ GÁI HANOI" và con đường trở lại của tác phẩm này.


(Câu chuyện viết từ 20 năm về trước).

"Sùng bái thái quá dễ trở thành mê tín. Một khi đã mê tín rồi! cái gì cấm cản được chuyện sùng bái..."
(CMN)


Nguyễn Sáng. "Cô gái Hanoi". Kt: 50cm x 65cm. Than thỏi (Fusain) trên giấy. Năm vẽ: 1944. Chữ ký góc phải dưới.



 Ảnh ChatGPT chuyển thể từ bức tranh "Cô gái Hanoi". (Cập nhật Tháng 11 năm 2025).
      

      Đây là câu chuyện thật không một chút nào có ý đánh bóng hay đề cao. Với tất cả tấm chân tình của người trong cuộc chỉ muốn thuật lại một cách thật trung thực về sự việc đã xảy ra với một tác phẩm của một họa sĩ có tầm vóc lớn trong nền hội họa Việt Nam đương đại, sau 60 năm nằm im trong bóng tối. Sự trở lại của nó thật hy hữu, thật bất ngờ, khá ly kỳ và hấp dẫn. Cũng là điều may mắn đối với nền hội họa Việt Nam, phát nguồn từ một cú va chạm giữa người chạy lò đồng nát với người thu mua ve chai dạo. Chuyện xảy ra không chút gì yên ả ngoài đường phố nhộn nhịp vào buổi sáng định mệnh ở ngay ngã tư Nguyễn Trãi - Tôn thất Tùng, Quận I, ngày 08 tháng 1 năm 2005. Nhưng lại là cứu tinh cho một tác phẩm nghệ thuật đầy ấn tượng. Nếu không có cú va chạm đầy duyên nợ này xe duyên thì cũng chẳng biết số phận bức tranh "Cô gái Hanoi" sẽ đi về đâu nữa!?

                                                                         ***

      Bức tranh mà tôi muốn đề cập ở đây là của họa sĩ Nguyễn Sáng. Tên đầy đủ là Nguyễn văn Sáng. Ông sinh ngày 01 tháng 8 năm 1923 tại Mỹ Tho. Mất năm 1988 tại Saigon. Ông theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương khóa XIV (1940 – 1945). Họa sĩ Nguyễn Sáng đã được người hâm mộ đánh giá cao và xếp hàng đầu trong bộ tứ thứ hai. "Nhất Sáng, nhì Liên, tam Nghiêm, tứ Phái". Một vị trí mà giới chuyên môn trong nền hội họa "đàng ngoài" cho là rất xứng đáng với tài năng của ông.

      Vì là câu chuyện mới xảy ra nên tôi còn nhớ rất rõ.

      Hôm ấy vào khoảng hơn mười giờ sáng. Tôi đang ngồi bên cửa hàng thứ hai cũng mang tên Minh Ngọc. Số 292 đường Võ văn Tần P.5, quận 3. Lý do tôi sang bên này là vì cuối năm công việc in gia công lịch hàng năm cho khách hàng bên của hàng 476 Nguyễn thị Minh Khai đã vãn nên đã giao khoán con vợ con quản trò. Một phần phải sang bên này để dọn dẹp sắp xếp lại cửa hàng cho tươm tất sau hơn tháng bỏ bê.

       Đang cặm cụi sắp xếp lại một mớ giấy tờ, văn bản triều Nguyễn có từ thời vua Gia Long, Tự Đức...v...v... Tụng giấy dó này bị thời gian vùi dập lâu ngày xô lệch quăn queo nên phải chính tay tôi làm mới vừa ý. Nghe tiếng động, nhác thấy hắn dựng xe bước vào khoe ngay từ cửa.

      - Tui mới mua được một tấm tranh vẽ cô gái Bắc Kỳ vẽ bằng bút chì đẹp lắm! Trên bức tranh còn có một con dấu của Trường Mỹ Thuật Đông Dương mang nội dung bán lấy tiền cứu trợ đồng bào bị nạn bom ở Hà Nội. Tháng 01 năm 1944! Có điều tên họa sĩ tui chưa đọc được!?

      - Tranh đâu! có mang theo không? tôi buột miệng hỏi.

      - Tui không có mang theo! vì chưa biết được tác giả nên chưa muốn bán, giờ chỉ có mang theo tờ photocopy anh coi đi! Nói xong hắn chìa cho tôi một cuộn giấy còn mới cứng. Tôi mở ra xem thấy có hai tờ. Một tờ là hình khuôn mặt cô gái. Một tờ có con dấu của Ban tổ chức, cùng chữ ký theo lối cổ triện. Tôi đọc ngay được tên "Văn Sáng" nhưng giả mù. Dạng chữ ký này tôi đã từng thấy nằm trên tác phẩm vẽ chân dung mẹ ông Đức Minh bằng phấn tiên và ngay bên trên chữ ký còn có thêm hàng chữ Nguyễn Văn Sáng nữa, nhưng ở bức của hắn thì không có hàng chữ đó. Do đã "chộ" vài lần chữ ký theo lối cổ triện này của Nguyễn Sáng nên tôi nhận ra ngay.

      - Không thấy tranh thiệt, đây là bản photocopy biết nó ra sao mà nói chuyện! Tôi vặn.

      - Để tui đọc được tên tác giả rồi sẽ cho anh xem, chứ giờ biết của ai đâu mà bán! Bán bao nhiêu giờ? Hắn cù cưa đưa đẩy. Mặc dù biết là tranh của Nguyễn Sáng rồi, nhưng chẳng lẽ nói cho hắn nắm thóp để quay mình sao!

      - Thì chú mày muốn bán bao nhiêu cứ nói! Được thì mua không được thì thôi! Tranh vẫn của chú mày, tiền vẫn còn trong túi tui có mất mát gì đâu mà sợ! Tôi thúc hắn.

      - Tui cho anh xem cũng được, nhưng báo cho anh biết là tui chưa bán vội! Để tui đi hỏi tên tác giả xong sẽ nói giá cho anh hay! Lâu lâu mới mua được tranh của Mỹ Thuật Đông Dương, để tui coi như thế nào đã! bớt thiệt hại cho tui chút nào đỡ chút đó! Lời phát ngôn đầy tính toán của tay cáo lão.

      - Chú mày chưa muốn bán vậy đem ra đây làm gì? Bán thì bán không thì thôi, đưa cho người ta coi rồi sợ hố nói không bán! Lời nói có pha chút gay gắt. Quả thật! tôi rất muốn xem tận mắt bức vẽ gốc xem hư thực ra làm sao, chứ nhìn qua bản photocopy lơ mơ như thế này tức anh ách. Khi thấy tôi tỏ vẻ bực mình. Hắn cười giả lả nói vuốt:

      - Thôi được rồi! tui sẽ dẫn anh về nhà để xem. Nhưng với một điều kiện là anh không được đòi mua! Nếu anh đòi mua tui sẽ không bán cho anh! Hắn cột tôi.

      - Vậy là sao!? Chú mày không cho quyền nói mua! Vậy khi chú mày cho xem, tui thích thì nói làm sao? Tôi hỏi ngược.

      - Tui nói là khi xem xong, nếu muốn mua thì anh cho tui biết! Tui hứa sẽ ưu tiên bán cho anh! Khi nào anh không mua, tui sẽ bán cho người khác! Hắn nói.

      - Lấy gì làm bảo đảm? Tôi hỏi ngược và muốn hắn hứa chắc với tôi một lần nữa.

      - Anh yên tâm, tui hứa là làm! Hắn cười toe hứa hẹn với khuôn mặt đầy rạng rỡ.  

      - Nói thì giữ lấy lời à nha! Tôi cố nói gằn để cho hắn nhớ. 

     Đúng là tay cáo lão có cục sạn to đùng trong đầu. Hắn không còn phải lo lắng gì nữa khi đã nắm chắc được đằng cán, chỉ có điều hắn đang lay hoay chưa biết cách phải cắt như thế nào cho thật mạnh, thật sâu mà thôi, chứ chẳng còn gì phải lo sợ đến chuyện không có miếng thịt nào để ăn nữa... Suy đi nghĩ lại cũng không thể nào trách cứ hắn được. Vật quý hiếm đâu phải lúc nào cũng có. Cờ tới tay tội gì không phất! đợi đến bao giờ? Mọi sự đều có căn nguyên của nó. Đã lăn xả vào chốn "một vốn bốn lời" này, mọi người đều như thế cả chứ không riêng gì hắn. Và tôi cũng rất thích lối mua bán của hắn. Dứt khoát nhanh gọn. Kể từ khi "chộ" mặt nhau đến giờ cũng chưa có lần nào tôi thất vọng về chữ tín của hắn cả.

      Tóm lại! cục diện đã như thế chả biết làm sao, đành phải xuôi theo để được hắn cho xem bức tranh. Đã có máu, giờ lại nghe tranh của Nguyễn Sáng nữa, làm sao mà cầm lòng cho được.                                                                              

                                                                                         ***

      Tại nhà hắn. Từ gian trong bước ra trên tay hắn cầm cuộn giấy giống như được quấn trong tờ báo cũ, có ràng mấy sợi dây thun bên ngoài để giữ cho khỏi bị bung ra. Bước đến gần hắn chìa cuộn giấy cho tôi và nói:

      - Từ lúc mang đi photocopy về đến giờ, tui cũng chưa mở ra coi lại! Hắn phân bua. 

       Tôi nhìn hắn và giơ tay đón cuộn giấy báo, cẩn thận tháo từng sợi dây thun ra sợ làm rách tờ báo cũ bọc ngoài ảnh hưởng đến bức tranh, rủi có gì bị bắt đền thì chỉ có mà chết…

      Tận mục sở thị.

·       Trên cùng là tấm bản đồ. “Hình Thể Chính Trị Việt Nam” khá to có phần cũ kỹ cùng một số vết loang lổ . Do ấn quán Saigon 56. Nguyễn thế Nghiêm xuất bản. GP số 102/TXB. NV. Nam Cường 185 Đại lộ Nguyễn thái Học. Saigon. Giá: 12đ.00. Có kích thước: 46,50cm x 63,80cm.

·       Bên dưới tấm bản đồ là bức chân dung bán thân cô gái Hanoi, vẽ bằng than thỏi [Fusain]. Người mẫu được đặt để trong một vùng không gian rộng mở thông thoáng của tờ giấy canson khổ lớn. Với mạch bút mạnh mẽ dứt khoát, cực kỳ linh hoạt và uyển chuyển nhìn giống như nét bút lông của giới cựu học, thật mềm mại bay bướm nhưng rất mach lạc, chuyển tải cả một cấu trúc ảo thị của sự phối hợp tuyệt khéo đầy ngẫu hứng giữa kỹ thuật tạo hình của Tây phương với những thuân pháp (皴法) cổ điển phương Đông thật sinh động và đầy ma lực. Một sự cách tân độc đáo về thuân pháp vẽ chì đầy mới lạ. Một sự chắt lọc tinh tế có chừng mực, vừa đủ không thừa thiếu, không rối rắm phức tạp hoặc quá đơn giản như ở các bức họa chân dung bằng chì than thường thấy trên họa trường (A). Riêng chữ ký của Nguyễn Sáng được viết theo thể chữ triện rất khó đọc, nhìn giống như cái "mề-đay". Phần dưới chân chữ ký cùng dãy số 1944 viết đè lên con dấu hình chữ nhật không viền, gồm sáu hàng chữ màu đỏ đã ngả màu nâu xậm. Một vài chữ bị nét chì than viết đè lên che mất, cũng có đôi chữ khác bị thiếu nét do mực không ăn vào giấy trở nên lem nhem mất nét, phải định thần đoán chừng mới đọc được. Đại ý là kỳ triển lãm tranh và có vẽ chân dung, do Ban Mỹ Thuật của Tổng hội Sinh viên Trường Đại học Đông Dương đứng ra tổ chức vào tháng "Janvier 1944" (1), để lấy tiền gây quỹ cứu trợ đồng bào bị nạn bom ở Hà Nội. Tờ giấy canson cũ kỹ đã xuống màu trà tàu nhạt, bề mặt trổ "lang ben" đều khắp. Bốn cạnh rìa đều có khuynh hướng quắn, sờn rách răng cưa lam nham, khô giòn dễ sứt mẻ. Góc phải trên bị ngấm nước loang thành quầng lấn vào trong cỡ gần một bàn tay. Dưới cùng nơi cạnh đáy cũng cho thấy đôi chỗ loang ố nhạt và một số ngấn nâu xậm nằm dưới một giải mốc trắng chồi đâm tua tủa từ phía dưới lên. Tất cả mấy vệt loang mốc này chạy cặp theo cạnh đáy lấn vào trong gần hết chiều ngang bức tranh. Cũng may là chỉ có thế, không xâm lấn gì thêm vào những chỗ quan trọng của tác phẩm. Thật đáng mừng!

·       Mặt sau lưng bức tranh được dán phủ kín bằng 03 nửa tờ báo ố vàng bằng tiếng Pháp. Do tên tờ báo “Le Journal de Saigon” bị dán úp măt vào trong nên phải lật hé ra mới đọc được. Tờ đề ngày Vendredi. 30 Aout 1946. Tờ ngày Samedi 31 Aout 1946. Tờ Vendredi 06 Sept 1946. Cả ba cùng nằm trong năm 1946. Chúng được dán nối lại với nhau rồi ốp vào với mục đích giữ cho lưng bức tranh được an toàn. Quan sát những đường dán dính giữa tờ báo với lưng bức tranh. Các rãnh tiếp giáp, bụi đọng lại thành lớp khá dày lâu ngày vón cục và lên mốc trắng, ngay cả bản diện tờ báo cũng có những chỗ loang ngấn nước nhìn thấy khá rõ. Cũng rất may là tờ giấy canson dù có cũ kỹ nhưng chất liệu vẫn còn khá tốt không bị tỳ vết hay nếp gấp làm phương hại đến tác phẩm sau thời gian tồn tại hơn nửa thế kỷ (2).

      Trong thời gian trên đường đi đến nhà hắn, tôi nghĩ chắc gì đã là đồ “xịn”, nhưng khi bắt tận tay day tận trán, tận mục sở thị bản gốc. Với kinh nghiệm cùng sự kiến trải trong nghề giấy má cũ, khái niệm coi thường ấy không còn nữa. Mặc dù chưa thể nói là mười mươi nhưng tôi cảm thấy yên tâm đến chín phần hơn. Những dấu hiệu cũ kỹ của thời gian tác động hằn dấu trên tổng thể bức tranh, cho thấy các chỉ dấu này không thể nguy tạo (3). Tôi cũng đặc biệt chú ý đến con dấu của BTC đóng vào tác phẩm "Cô gái Hanoi". Ngoài chuyện mang nội dung đầy tính nhân bản ra, tôi nghĩ nó còn là một nhân chứng của lịch sử trong giai đoạn chiến sự khốc liệt đang xảy ra trên đất nước do Đệ Nhị Thế Chiến mang lại. Không những thế, con dấu còn biểu lộ cho thấy nó đã được BTC đóng khống vào những tờ giấy canson trước khi giao cho chàng sinh viên Nguyễn Sáng, thông qua những nét chì than từ chữ ký của Nguyễn Sáng viết đè lên con dấu đã nói lên điều này. Cũng từ chuyện con dấu được đóng khống mà tôi nảy sinh ra một vài câu hỏi. Chàng sinh viên Nguyễn Sáng đã nhận và đã sử dụng hết bao nhiêu tờ để vẽ cho khách tham dự trong kỳ triển lãm? Có họa sĩ nào khác cùng đứng vẽ hay chỉ duy nhất mỗi mình Nguyễn Sáng? Tóm lại có nhiều điều khá bí ẩn gây thắc mắc cần được giải mã này càng khiến tôi thêm quyết tâm phải mua nó cho bằng được. Dứt khoát không thể để vuột khỏi tay bức tranh quý hiếm cưc kỳ đặc biệt này. 

      Tôi cảm thấy thật thích thú và ấm áp trong lòng. Và không dám xem lâu sợ hắn bắt mạch biết “tăng xông” của mình thì mệt. Trong lúc xăm soi tôi có buông lời ướm thử thăm dò chuyện mua bán bức tranh nhưng hắn vẫn khăng khăng là phải biết được tác giả là ai rồi mới bán để tránh được thiệt thòi về phía hắn càng ít càng tốt. Sự suy nghĩ của một người sành sõi, đa nghi như hắn càng đòi mua hắn lại càng sợ hố, sau này khó mua. Tôi phớt lờ làm như chả có gì quan trọng, cho hắn có một cảm nhận rằng đối với tôi có mua được cũng thế mà không mua được cũng vậy. Tôi cuộn tấm tranh lại và nói với hắn là đồng ý mua nhưng phải cho tôi một cái giá nào đó để tôi suy nghĩ. Hắn đồng ý và hứa ưu tiên bán cho tôi, khi nào tôi không mua hắn mới bán cho người khác. Thời gian hắn hẹn là sau một tuần lễ.

      Thâm ý của hắn tôi hiểu, một cách hoãn binh để có thời gian đi khảo giá xem ai trả cao nhất, rồi dựa vào đó kê thêm lên mà phán cho tôi một cái giá theo sở ý. Một tính toán rất chặt chẽ, đặt đối phương vào thế bị động, buộc phải lệ thuộc vào hắn không thể làm gì khác. Nếu tôi trả rẻ không vừa ý, hắn sẽ quay lại bán cho người trả giá cao nhất. Tôi hiểu và không sợ chuyện này, tôi không rõ những người hắn có thể đến để chào bán và tham khảo giá cả là ai. Nhưng chắc chắn một điều là không ai dại gì mà nói thật giá muốn mua cho hắn biết và ai cũng hiểu rằng hắn đang dọ giá nên có trả gia thế nào đi nữa hắn cũng vẫn chưa bán vì sợ bị hố do bản tính đa nghi. Với hắn tất cả chỉ là sự trao đổi chung chung để thăm dò ướm giá sơ bộ mà thôi. Vì vậy dẫu có thích mấy họ cũng vẫn phải dè chừng. Về việc giá cả này cũng còn tùy thuộc rất nhiều vào sự thẩm định, sự yêu thích, sự hiểu biết cùng chuyện kiến trải trong lãnh vực hội họa của người mà hắn tiếp cận đến đâu nữa, không hề đơn giản. Mặc dầu nghĩ như vậy, tôi cũng không dám xem thường hắn. Mức dự trù của tôi. Nếu hắn đòi khoảng từ 5.000usd trở lại, không cần suy nghĩ. Nếu trên 5000usd đến 7000usd tôi sẽ phải tính kỹ xem túi tiền có cho phép hay không. Nếu như không kham nổi, tôi sẽ nhường lại cho ông luật sư Đ. mua (4), một vị khách quý hào sảng thường xuyên mua sách của tôi và thỉnh thoảng cũng có mua tranh nữa . 

        Thật ra, nếu bức "Cô gái Hanoi" này không có yếu tố về thuân pháp (5) và con dấu của BTC biểu thị rõ mục đích từ thiện cùng nhiều nghi vấn gây kích thích. Tôi nghĩ sẽ chỉ mua khoảng chừng 1.000usd đổ lại mà thôi. Bởi vì số tiền 4, 5 ngàn dollar Mẽo ở thời điểm này không hề nhỏ. Với số tiền đó tôi có thể mua vài ba bức của những họa sĩ khác thuộc tầm cỡ đình đám cây đa cây đề của miền Nam trước 1975 rất dễ dàng. Nhưng tôi vẫn quyết theo đuổi mua bằng được bức "Cô gái Hanoi" này bởi vì nó có những yếu tố mà ngay cả các họa phẩm khác của Nguyễn Sáng nói riêng và các họa sĩ đàn anh cùng thời với Nguyễn Sáng nói chung cũng chẳng có được. Còn như nếu tôi quá sính về độ bền thì thiếu gì những phẩm vật bằng kim loại, chắc chắn có tuổi thọ cao hơn tờ giấy rất nhiều.. Nhưng tôi bỏ qua tất cả và quyết đeo đuổi cho bằng được mục đích của mình. Tôi nhanh chóng khẳng định trong đầu như vậy!

                                                                       ***

        Trước khi ra về. Tôi hỏi cơ may nào mà hắn lại vớ được đồ độc như vậy. Hắn kể:

      Khu phố hắn đang được Thủy cục đặt đường ống dẫn nước vào nhà phải trả phí. Ngày mai là hạn cuối, hắn phải đóng cho tổ trưởng số tiền khoảng hơn bốn trăm ngàn đồng. Trong khi, dốc túi hắn chỉ còn hơn hai chục ngàn. Không biết cách nào, hắn gọi điện lên tận Thủ Đức hỏi mượn tiền người quen bán sách cũ, nhưng vì cận Tết ế độ nên họ không có dư để cho mượn. Thất vọng hắn xách xe chạy loanh quanh tìm các lò ve chai quen thuộc trên địa bàn mong vớ được món nào bán để gom tiền bù đắp vào khoảng tiền buộc phải đóng cho tổ trưởng dân phố nội trong ngày.

      - Số tui cũng hên! nếu người quen trên Thủ Đức có tiền cho mượn thì tui chạy thẳng lên trển thì đâu có gặp dzụ này! Anh biết không! bí quá không biết chạy đâu ra tiền. Tui xách xe chạy lòng vòng không có mục đích, đầu óc rối mù nghĩ lung tung. Khi đi ngang ngã tư Nguyễn Trãi, Tôn thất Tùng góc nhà thờ Huyện Sĩ, thấy đèn vàng tui ráng dzọt lẹ để qua không ngờ gặp xe ve chai cũng vừa trờ tới, thế là “RẦM”. Chưa biết sự thể ra sao! chưa kịp xuống xe! chưa kịp phản ứng gì thì như bão táp mưa sa, cái lỗ tai tui đã lùng bùng tiếp nhận một tràng xỉa xói chói lói lớn hơn cả cái loa phóng thanh của Phường phát tin ập tới mỗi sáng. Không biết bao câu, từ cực kỳ bình dân xổ ra không một chút kềm chế từ con mẹ ve chai có phản xạ cực kỳ nhanh nhạy để đáp trả cho chuyện vừa xảy ra cho mẻ. Tui vội dựng xe xuống xin lỗi. Mẻ không chịu một hai bắt tui phải đền. Bị ăn vạ rồi! xui tận mạng nghèo mắc cái eo. Tui nghĩ dzậy, nhưng mẻ làm dữ quá đành phải xuống nước năn nỉ xin đền. Anh biết sao không? Tui nhìn vào trong thùng xe của mẻ, đâu có cái con mẹ gì ngoài cái bao đựng gạo bằng nylon chè bè dính sơn, vôi vữa tèm lem dơ dáy (6). Tui bước tới giở banh miệng bao ra coi có cái gì để liệu mà đền. Chả có gì ngoài cái khung gỗ tạp có gắn kiếng khá lớn bị nứt đôi, bên dưới có tấm bản đồ Việt Nam cũ nằm đè lên mớ dây điện rối nùi cùng mấy món đồ vớ vẩn nằm lỏng chỏng. Có cái mẹ gì đâu! dzậy mà mẻ làm dữ chửi búa xua, một hai níu bắt tui đền không tha, chắc vì cái tội dám đụng dzô mẻ... Mình có nghề mà!!! Hề... hề… Tui nhìn tấm bản đồ cũ biết chắc là in trước 75, chắc cú bán cũng phải được hai ba chục ngàn. Nghĩ xong tui móc túi ra đưa cho mẻ 10 ngàn. Mẻ tắt đài liền! nói thiệt! tấm kiếng này dù có còn nguyên lành đem về lò mẻ bán chừng năm ngàn chưa chắc lò nó đã chịu mua nữa, nhưng để cho êm chuyện tui đành phải trả như vậy cho rồi! Lúc tui bẻ cái khung để gỡ tấm bản đồ ra, tui thấy bên dưới là một tấm tranh vẽ chì có cái mộc đo đỏ, đọc thoáng qua hàng chữ, tui lẹ tay cuốn cả hai lại sợ mẻ thấy. Xong, tui phóng một lèo về nhà mở ra coi kỹ mới biết là tranh thời Đông Dương, mừng quá tui đem ra tiệm photocopy rồi mang ra cho anh xem liền chứ chưa có đưa cho ai coi hết đó nha! Hắn hăng say kể lại, không biết là có thêm bớt mắm muối gì không! Tôi lắng nghe nhưng mắt vẫn nhìn vào bản photocopy có vẽ bức chân dung cô gái và thấy đây cũng là một sự kiện lạ vui vui dù chưa biết ất, giáp ra sao.

                                                                        *** 

      Tôi biết hắn cách nay cũng gần chục năm, thoạt đầu còn lớ ngớ nhưng với bản chất lanh lợi khôn ngoan láu lỉnh từng trải trên đường đời. Những yếu tố này giúp hắn nắm bắt rất nhanh sau vài năm lăn lộn. Do va chạm trải nghiệm qua nhiều trong lãnh vực đồng nát nên hắn khá là chắn chắn trong chuyện mua bán. Hắn biết đến từng sở trường, sở đoản của những người hắn đem món hàng đến chào bán. Chính những lần mời chào cùng thời gian ngồi tán gẫu với người mua, hắn có thêm dịp học hỏi để tăng thêm phần công lực cho mình. Có chí thì nên. Nhiều người ra cùng thời với hắn nhưng so ra chả là gì. Trong nghề ve chai đồng nát, một vốn bốn lãi này, nếu mà hiểu biết rộng sẽ rất dễ kiếm sống là vậy. Có những món cứ tưởng là vất đi, nếu biết khai thác nó sẽ trở thành đống tiền ngay. Bố tôi thường hay nói khi tôi còn trẻ. “Của chạy đầy đường, nếu mình biết vận dụng nắm bắt được, nó sẽ về thành của nhà mình là tốt. Nhưng phải luôn luôn nhớ một điều là làm bất cứ việc gì cũng phải dựa trên nền tảng đạo đức làm người! Không được làm điều gì khuất tất, để rồi ân hận!”. Một câu nói tôi nhớ mãi. Tôi từ giã hắn ra về, sau khi dặn hắn đừng quên những gì đã hứa.

      Ngày hôm sau khoảng gần trưa hắn gọi điện báo.

      - Tui đọc được rồi! Tác giả là Nguyễn Sáng!

      - Sao mi đọc được hay vậy? Tôi hỏi.

      - Tui chạy khắp nơi, dzô Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố, chìa bản photocopy hỏi không ai biết. Chạy lên trường Đại học Mỹ thuật cũng không xong. Tui ở gần nhà họa sĩ Tú Duyên, xách qua hỏi ổng cũng chịu, Cầm dzô nhà thờ hỏi mấy Cha xứ cũng lắc đầu (Hắn là con chiên của Chúa). Cuối cùng vào hội Mỹ Thuật Thành Phố mới gặp được một ông già, ổng cho biết là tranh của Nguyễn Sáng làm tui mừng húm. Hắn nói một hơi khoe thành tích.

      - Vậy chứ chú mày lấy danh nghĩa gì mà đi hỏi lung tung vậy? Tôi hỏi.

      - Có khó gì đâu. Tui nói tui là sinh viên mỹ thuật làm đề tài về mấy họa sĩ nên ai cũng vui vẻ giúp hổng khó dễ gì. Hắn cười trả lời, có vẻ đắc ý về sự tháo vát của mình. Tôi nghe, bán tín bán nghi mà thán phục tài trí của hắn. Chủ đích của tôi hiện giờ là mua cho được bức tranh, còn hắn nói gì cũng kệ hơi đâu vặn vẹo chi cho mất hòa khí.

      - Giờ biết của Nguyễn Sáng rồi muốn bán bao nhiêu? Tôi hỏi.

      - Chưa hết một tuần mà! Tui đang bước vào một lãnh vực mới! Để tui tìm hiểu kỹ xong rồi sẽ nói chuyện nha! Quả là tay siêu hạng, lõi đời đáng nể. Tôi nghe thấy trong giọng nói của hắn bây giờ có vẻ hơi trịch thượng một chút, hắn nghĩ mình đang cầm đằng cán, tôi là người phải o bế hắn.

      Hết hạn một tuần không thấy hắn trả lời, tôi gọi điện. Hắn cho hay là đang về quê ăn đám giỗ, sau hai hôm nữa mới về rồi sẽ gặp tôi. Một thủ thuật mới, lại một kiểu hoãn binh của hắn. Tôi bình thản chờ xem hắn diễn tấu như thế nào.

                                                                     ***

      Đúng hẹn! trước một ngày xúc tiến việc mua bán chính thức, hắn tay không ra hàng gặp tôi vào buổi sáng. Sau một hồi tán hưu tán vượn, hắn đưa ra một cái giá mà tôi phỏng đoán ít nhất là phải như thế; 4000usd [Bốn ngàn dollar Mỹ] tương đương sáu chục triệu đồng tiền Việt. Sau một chuỗi kỳ kèo thương lượng, tôi đã phải đồng ý mua của hắn với một cái giá không thể nào lay chuyển được nữa là: 50 triệu đồng. (Tương đương với 6 cây vàng SJC vào thời điểm đó).       

       Tóm lại! với tất cả tình nghĩa qua lại bao năm trời với nhau cùng sự kỳ kèo cả buổi trời đến khô cả miệng muốn cứng cả lưỡi, hắn mới động lòng bớt cho được như vậy! Nói gì thì nói, hắn có tinh quái đến đâu chăng nữa nhưng sự hiểu biết trên con đường nghệ thuật, hắn chưa phải là người ngồi chung chiếu. Ngay từ đầu tôi đã có ý nghĩ phải mua cao hơn thiên hạ mới mong thó được của tay này. Sự giao hẹn của hắn rất chặt chẽ khôn khéo. Hắn nói thẳng với tôi không chút che đậy dấu diếm. Là phải làm sao để cho phần thiệt hại về phía hắn càng ít càng tốt. Một việc làm hoàn toàn nghiêng hẳn phần lợi về phía hắn. Tôi biết và chấp nhận chuyện này, miễn giá cả nằm trong khung dự kiến của mình là được. Mà suy cho cùng cũng chẳng còn "binh" đường nào cho được. "Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức".

      Tôi nương theo quan niệm người xưa. Duyên nó bén cứ manh dạn đón nhận. Mua là được, dù có cao đi nữa miễn nó vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát là quá tốt rồi. Đồng ý là phải bỏ ra số tiền khá to so với hoàn cảnh kinh tế của mình vào lúc này nghĩ cũng nẫu người. Nhưng phải nhớ, đồng tiền bát gạo còn dễ kiếm, chứ vật phẩm quý hiếm đâu phải lúc nào cũng "chộ". Giờ tranh quí tầm người. Của ngon dâng đến tận mồm đủ sức nhai mà chê để kẻ khác ăn hộ thì quá tệ! Thời buổi mật ít ruồi nhiều, cơ hội bằng vàng qua đi, chẳng bao giờ gặp lại! Chi ly quá để vuột, rồi đứng ngó thiên hạ diễn trò mở loa phóng thanh mà quát thì lỗ tai nào mà chịu cho thấu! Tóm lai! tình hình rơi vào thế triệt buộc, day qua vặn lại cũng không còn phương kế nào khác, đành phải nghiến răng xuống tay tranh tiên tránh chuyện hắn đổi ý vào phút chót. Chuyện đã từng xảy ra rồi chứ đâu phải chưa có... 

      Ngay tối hôm đó, tôi họp hội đồng gia đình để xin ý kiến. Sau lời thuyết giải ỷ ôi, bày tỏ lòng ham mê thành cái tật của mình trước mâm cơm. Cũng may cả nhà từ vợ chí con đều đồng thuận giải cứu cho máu hám tranh của tôi. Thế là đi đong khoản tiền lời cả mùa lịch đầy vất vả đẫm mồ hôi của cả vợ lẫn con suốt mấy tháng trời. Nhưng không sao! cả nhà vẫn hoan hỷ, chỉ có điều phải chấp nhận đón cái Tết năm Ất Dậu không thoải mái như mọi năm mà thôi. Nghèo mà ham chơi nó khổ như thế đó.

                                                                          ***

       Tôi hẹn hắn ở cửa hàng 292 Võ Văn Tần. Rơi vào buổi sáng thứ Bảy, ngày 19/01/2005, (nhằm ngày mồng 10 tháng 12. năm Giáp Thân). Sau khi mở bức tranh ra dơ lên hạ xuống soi trước rọi sau xem có bỏ sót chỗ nào không! chỉ có mấy quầng nước và có ánh sáng chiếu xuyên qua 2 lỗ thủng cỡ hạt gạo nằm gần mái tóc phía trên bờ vai trái không đáng kể, tất cả không ảnh hưởng gì đến hình họa bức tranh! Yên tâm! Tôi nói thong thả nói.

      - Tui bỏ số tiền lớn ra để mua tranh thiệt nên cần có sự bảo đảm từ chú mày, vì vậy tui phải coi thật kỹ lần chót xem có bị làm giả hay là tranh chép không, chớ mới cầm trên tay coi sơ sơ một hồi như vầy hổng có yên tâm chút nào hết! Giờ tui đề nghị đưa trước 1.000usd đặt cọc, chú mày để tranh lại cho tui coi hai ngày. Xong! OK là giao đủ tiền. Còn nếu là tranh giả hay chép thì chú mày phải trả lại 1.000usd cho tui chịu không? Sau một hồi suy nghĩ hắn đồng ý và xin cho hắn ký tên nháy vào sau lưng bức tranh làm dấu. Tôi O.K không nói gì thêm và nghĩ thầm trong bụng, Với cái giá đưa ra 60 triệu mà bớt đi cái rụp còn 50 triệu đồng, chắc chắn tôi là người trả giá cao nhất rồi. Giờ mà có kề dao dô cổ bắt hắn đừng bán e cũng không phải dễ. Tôi cũng hiểu phần nào về cung cách mua bán của hắn. Trong các lần giao dịch, hắn ít khi nào chịu bớt, nếu có thì chỉ bớt rất ít cho có, thế mà giờ hắn lại văng mạng bớt hẳn cả 10 triệu đồng là hiểu ngay nó như thế nào... Nhưng không sao, với tôi giá cả không quan trọng bằng chuyện mua được phẩm vật quý hiếm nguyên gốc có giá trị đích thực mà tôi yêu thích là vui lắm lắm rồi. Nó có thể cao đối với mình nhưng với người nhiều tiền lắm của nó sẽ khác. Hơn nữa nếu gặp phải người đồng sở thích, hiểu rõ giá trị mà lại rủng rình nữa thì... Sự tùy thuộc vào khả năng tài chính của người chịu chơi không phải là ảo tưởng... Tôi tự an ủi mình bằng ý nghĩ chủ quan như vậy.

     Thực sự ra chuyên kéo dài thêm hai ngày vì tôi muốn soi thật kỹ lại lần cuối cho yên tâm thôi, chứ khi cầm bức tranh trên tay tại nhà hắn là tôi đã nhìn thấy rõ được các yếu tố vật lý tác động lên bề mặt vật chất một cách tự nhiên xảy ở nhiều nơi trên bức tranh rồi. Những chỉ dấu đặc trưng này đã khẳng định không thể nào làm giả cho được cho dù có khéo tay đến mấy. Nói thì thấy khó chứ đối với những ai đã từng va chạm thì nhìn vào là thấy ngay chứ không riêng gì tôi. 

      Tóm lại! đây là một tác phẩm ký họa truyền thần đầy hấp dẫn của hoạ sĩ Nguyễn Sáng. Về độ tuổi thì nghe, ngó chung quanh chưa thấy được tấm nào trên thị trường có tuổi già hơn. Tôi có thấy một bức của Nguyễn Sáng vẽ mẫu thân nhà sưu tập tranh Đức Minh bằng phấn tiên in trong sách nhưng lại vẽ vào năm 1945. Như vậy bức ký họa truyền thần chân dung "Cô gái Hanoi" tạm thời được xem là sâu tuổi nhất trong giòng tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng cho đến tận hôm nay tháng 01-2005. Bức tranh đã được 61 tuổi. Và đã góp mặt trở lại trong một tình huống đầy kịch tính và đầy bất ngờ sau một Lục Thập Hoa Giáp nằm im trong bóng tối. Sự trở lại của bức ký họa truyền thần "Cô gái Hanoi" của họa sĩ Nguyễn Sáng đã bổ sung cho nền Mỹ Thuật Việt Nam một tác phẩm có giá trị bất biến của một họa sĩ tài danh mang tầm vóc quốc gia. Và ngoài giá trị nghệ thuật ra bức "Cô gái Hanoi" còn là một kỷ vật, đồng thời cũng là vật chứng của một giai đoạn lịch sử đầy biến động của nước nhà nữa.  Rất xứng đáng để cho chúng ta trân trọng và gìn giữ. (7)

                                                                 Saigon, ngày 22-01-2005.

                                                                          Cauminhngoc.

                                                                     (Lưu giữ và giới thiệu)


       (A)  Đây là một tác phẩm nghệ thuật đích thực. Không phải là bản phác thảo ghi nhận sự việc thông thườngNguyễn Sáng đã quán thu được những nét đặc thù của người mẫu chỉ trong khoảng khắc ngắn ngủi để diễn cảm lên mặt giấy một cách trọn vẹn. Một điểm vàng cho chàng trai trẻ còn đang đeo đuổi việc học tập với nhiều khó khăn ở phía trước. Nếu không có tác phẩm “Cô gái Hanoi” này, chúng ta không làm sao biết được tài năng của Nguyễn Sáng đã sớm bộc lộ ngay từ lúc còn là chàng sinh viên năm thứ Tư của Trường Cao Đẳng Mỹ Thuât Đông Dương. Phải như thế nào đó Nguyễn Sáng mới được Ban Giám Hiệu của Trường tin tưởng chọn và giao cho trọng trách đầy khó khăn, nhưng rất đỗi tự hào này trong khi đương thời còn có biết bao vị đàn anh cùng những sinh viên khác của trường! Đó là tín hiệu cho thấy tài năng vượt trội của Nguyễn Sáng... 

 

 (1)     Theo “Những ngày chưa quên” của Đoàn Thêm. Quyển 01 trang 24, từ dòng 12 đến dòng 20 có ghi. [Máy bay Anh, Mỹ tới thăm viếng Bắc Việt từ giữa năm 1942, mới đầu một tháng dăm lần, nhưng số phi vụ càng ngày càng tăng, trước còn do thám, sau bắn phá và ném bom. Các cuộc tấn công chỉ nhằm những nơi có Nhật đóng, song cơ sở Nhật rải rác trong các thành thị và ngoại ô, nên sự thiệt lây đôi khi khó tránh; tỉ như vụ ném ga xe lửa Gia Lâm và Hà nội cuối 1943; Hơn ngàn người chết và bị thương...v...v...]

         [“Tháng 12/1943, Mỹ ném bom Hà Nội. Theo chủ trương của Nha học chính Đông Dương các trường phải sơ tán khỏi Hà Nội, - Khoa hội họa và một bộ phận nhỏ khoa điêu khắc trường Cao đẳng Mĩ thuật Đông dương sơ tán lên Sơn Tây do giáo sư Inguimberty cùng với các họa sĩ Nam Sơn và Tô Ngọc Vân phụ trách”. (Trích trong Họa sĩ Nguyễn Tường Lân. Chuyện bây giờ mới kể)].

      Cũng may nhờ có tác phẩm "Cô gái Hanoi" còn sót lại này, chúng ta mới biết được vào Tháng 01 năm 1944 (Cũng là Tháng 11 năm Quý Mùi), đã có tổ chức một kỳ triển lãm tranh để lấy tiền giúp đỡ cho đồng bào bị nạn bom ở Hanoi và rất buồn là chỉ biết có thế. Không rõ ngày giờ khai mạc. Không rõ kỳ triển lãm được kéo dài trong bao lâu và địa điểm trưng bày ở đâu? Thành công hay thất bại! Thật đáng tiếc! 
      Dựa vào nội dung của con dấu cho thấy kỳ triển lãm này do chính quyền Pháp ở thời điểm đó tổ chức, nhưng không dám ra mặt mà phải lấy danh nghĩa "Ban Mỹ thuật của Tổng hội Sinh viên Trường Đai Học Đông Dương" để tổ chức. Một sự tránh né rất rõ ràng. Người Pháp đã không dám trực diện mà phải lấy danh nghĩa của Tổng Hội Sinh Viên mang tính dân sự để tổ chức hầu qua mặt quân Nhật, cho thấy chính quyền Pháp lúc đó lép vế trước Quân phiệt Nhật như thế nào. Có lẽ vậy mà kỳ triển lãm này không hề thấy một tờ báo nào khi đó loan tin, mặc dù kỳ triển lãm với mục đích thật cao quý là làm từ thiện rất cần sự quảng bá rộng rãi trong xã hội. Phải chăng báo chí lúc đó sợ quân phiệt Nhật trả thù? Rất có thể, vì ở vào thời điểm này quân Nhật đang bị quân Đồng mình đánh phá gây thiệt hại khăp nơi nên rấy cay cú. Giận cá chém thớt cũng mệt lắm? Và cũng không hề thấy có thêm một tác phẩm nào khác thuộc kỳ triển lãm Tháng 01/1944 này xuất hiện trong xã hội và trên họa trường từ ngày đó cho đến ngày nay, ngoài tác phẩm "Cô gái Hanoi" độc nhất vô nhị này? Phải chăng giới hâm mộ nghệ thuật vào lúc đó cũng e dè không dám đi tham dự vì sợ quân Nhật ? Và cũng chính con dấu đóng trong tác phẩm "Cô gái Hanoi", cho chúng ta biết là kỳ triển lãm của Tháng 01 năm 1944. Là lần triển lãm tranh chính danh cuối cùng được chính phủ Pháp tổ chức, dưới danh nghĩa "Ban Mỹ Thuật của Tổng hội Sinh viên Trường Đại Học Đông Dương". Và cũng không rõ kỳ triển lãm này trưng bày ở chốn nào nữa?


(Cập nhật Tháng 11/2025)
      Mẩu tin dưới đây xuất hiện trên Facebook năm 2021 cho biết vào ngày 09 Tháng 12/1944 (Tháng 10 năm Giáp Thân) có một kỳ triển lãm, bán vé để lấy tiền gây quỹ cứu tế chiến tranh, rất tiếc là nguồn không nói rõ trích từ tờ báo hay tạp chí nào, nhưng nhìn vào mẫu tin cũng thấy được sự khiêm tốn rất đáng tội nghiệp và xót xa, thay vì phải giật tít lớn ở trang nhất để kêu gọi đồng bào cùng chung tay làm việc thiện, nó lại được thể hiện thật nhỏ bé với tiêu đề là "Phòng triển lãm năm 1944" rất chung chung, không nói rõ là triển lãm về thứ gì. Về nghệ thuật, hàng thủ công mỹ nghệ hay sản phẩm công nghiệp...v...v... Rồi cũng chẳng nêu ra địa điểm trưng bày ở đâu, do đơn vị nào đứng ra tổ chức mà chỉ thấy ghi khá chi tiết về giá vé cùng thời gian mở cửa mà thôi...  Phải chăng cũng vì sợ quân Nhật hay mật thám bắt bớ mà ra cớ sự?

     Nguồn ảnh: Trích từ Facebook vào năm 2021, hình như của FB. Phạm Long? 
   Mẩu tin này được biết đến sau khi viết bài "Con đường trở lại của một bức tranh quý" rất nhiều năm (từ 2005 - 2021). Nay xin cập nhật để người đọc tiện việc tham khảo. (19/11/2025).

      Dựa vào mẩu tin nho nhỏ này chúng ta mới biết trong năm 1944 có xảy ra 2 kỳ triển lãm. 
          * Lẩn thứ nhất vào tháng 01/1944. (Tương ứng với Tháng 11 năm Quý Mùi, Âm lịch). Đây là kỳ triển lãm tranh có vẽ ký họa chân dung để gây quỹ cứu trợ. Có giá trị đích thực cho việc nghiên cưu lịch sử mỹ thuật của Việt Nam. 
          * Lần thứ nhỉ vào ngày 09/12/1944. (Tương ứng với Tháng 10 năm Giáp Thân, Âm lịch). Do mẩu tin không nêu rõ nội dung nên chẳng biết là lần thứ nhì này triển lãm về thứ gì. Không rõ có phải là triển lãm tranh không hay về một sản phẩm nào khác? Thật đáng tiếc cho việc nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật của nước ta.
         Cả hai kỳ triển lãm đều có ghi rõ ngày tháng. Một lần vào Tháng 01/1944/ và một lần vào Tháng 12/1944. Cả hai đều còn nằm trong năm 1944 Dương lịch. Tương ứng với những tháng cuối năm Âm lich, thời điểm cân Tết ta. Vỉ thề mà các cơ quan hội đoàn xã hội thường hay tổ chức cứu tế, mở lễ hội Cây Mùa Xuân kêu gọi mọi người chung tay đóng góp làm từ thiện giúp đỡ những người cơ nhỡ khó khăn có chút quà Xuân ấm áp…
       Một dấu hỏi rất lớn và tô đậm được nêu ra. Với hai kỳ triển lãm có bằng chứng rất rõ ràng như thế này, chẳng hiểu sao lại mất dấu? Không hề có lấy một mẫu vật hay dấu vết nào khác có liên quan, dính dáng đến hai sự kiện nêu trên tồn tại, xuất hiện ngoài đời thực hay trên sách vở báo chí xuất bản ở thời điểm đó nhắc đến, ngoài bức tranh "Cô gái Hanoi" và mẫu tiếp thị in nho nhỏ trên tờ báo? Kể cũng lạ và khó hiểu thật...
 

       (2)   Vào giai đoạn "bo bo củi thước", thời điểm mà tranh lua đang là cao trào ở Saigon, tôi đã từng nghe qua một câu nói: “Tranh vẽ trên giấy hay lụa có giá không cao bằng sơn dầu vẽ trên bố”. Một nhận định chưa hẳn là chân lý. Nếu so sánh về độ bền chất liệu hữu cơ của phẩm vật thì không có gì sai. Nhưng đứng trên quan điểm để định vị giá trị thì ta phải có cái nhìn khác, không thể vin vào chất liệu mà quên đi giá trị vốn có của nó cho được. Gút lại! chuyên này cũng còn tùy thuộc vào sở thích cá nhân nữa. Nếu thích thì mấy cũng cân. Không thích thì phủi tay cái xoạch là xong. Đó là lẽ thường tình. 

     Với cá nhân tôi, bất cứ một phẩm vật nào đã từng trải qua quá trình gạn lọc của thời gian mà còn tồn tại, đều xứng đáng được trân trọng gìn giữ. Nếu mà vật phẩm đó, tự thân còn có chứa đựng thêm một vài yếu tố chỉ dấu cho sự kiện nào đó đã từng xảy ra, được những người ở thời điểm đó trân trọng đánh giá cao, cho đến ngay cả các nhà nghiên cứu sau này cũng đồng thuận thì dẫu cho chất liêu cấu tạo vật phẩm là gì đi nữa, nó vẫn có giá trị bất biến và sẽ trở thành bảo vật nếu được giới chuyên gia công nhận. Và cũng không thể cào bằng giá trị giữa hai vật phẩm của cùng một tác giả. Chúng không chỉ có sự khác biệt nhau về độ bền chất liệu, mà còn khác nhau cả về bản thể có chứa đựng thêm một dấu ấn đặc biệt nữa. Với sự việc này, cần phải xem xét phân định so sánh thiệt hơn một cách sáng suốt để đưa chúng về đúng vị trí vốn có một cách nghiêm túc, không thể lẫn lộn cho được. Điển hình như tác phẩm “Cô gái Hanoi” này. Mặc dù là được vẽ trên giấy canson có độ bền không thể so với một tác phẩm sơn dầu của Nguyễn Sáng. Nhưng đứng trên phương diện phẩm giá thì "Cô gái Hanoi" này không hề thua kém bất cứ một tác phẩm nào khác trong giòng tranh chính thống của Nguyễn Sáng cho được, Và tác phẩm "Cô gái Hanoi" cũng là một điểm dừng rất hiếm hoi để mà soi xét về quá trình phát triển của họa sĩ Nguyễn Sáng trên con đường mỹ thuật, khi mà ông đang còn là sinh viên ở vào giai đoạn cuối của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương thuộc Pháp. Vì vậy chúng ta cần phải tĩnh táo soi xét một cách nghiêm túc để tránh những sai lầm của định kiến có thể dẫn đến chuyện xem thường mà bỏ bê, để rồi ôm sự tiếc nuối trong lòng. 

      (3)   Khi cầm bức tranh trên tay và đọc nội dung con dấu của BTC. Tôi khẳng định bức tranh này thuộc thể loại "ký họa truyền thần". Người thật việc thật, Nguyễn Sáng đã vẽ trực tiếp người mẫu ngay tại buổi triển lãm trong một khoảng thời gian ngắn chứ không phải vẽ theo trí nhớ hay tưởng tượng. Vì là vẽ truyền thần, mỹ nhân là nhân vật có thật. nhưng không lưu lại danh tính nên đã để lại một điều thắc mắc đáng tiếc cho hậu thế.  

       (4)  Luât sư P.V.Đ cùng trạc tuổi tôi. Có văn phòng luât tên H.Đ. Ông là người rất chiu chơi, thích sưu tầm sách quý hiếm và thỉnh thoảng cũng có mua tranh. Vào giữa năm 2004. Tôi đã từng nhượng cho ông một tụng trên 500 quyển. Gồm 200 quyển sách xưa và sách in trên giấy bổi quý hiếm, trong đo có nhiều quyển còn nguyên cả áo bìa mới cứng. Và trên 300 quyển sách in trên giấy đặc biệt có chữ ký của những tác giả nổi tiếng trong làng văn học miền Nam trước 1975. Trong lô này còn có 3 bức minh họa cho tập truyện và 05 tập bản thảo đánh máy của họa sĩ Tạ Tỵ. (Hai tập thơ. Hoài ca và Đầy vơi // Văn nghệ và con người // Bản di chúc của một loài chim // Những không gian cũ). Đây là những quyển sách được tôi tuyển lựa dành dụm từ bao nhiêu năm trời trong nghề sách cũ mới có. Rồi ông cũng ra tay ốp của tôi vài bộ sơn mài có tên tuổi trước 1975 nữa. Do thân quen nên ông thường hay ghé tiệm chơi, rơi đúng vào thời điểm tôi đang thương lượng giá cả bức "Cô gái Hanoi". Do sự việc còn đang nóng hổi và cũng thấy được nhiều dữ kiện đặc biệt trên bức tranh nên tôi đã tâm sự cùng ông rất nhiều điều về những yếu tố đó. Ông Đ. nghe tôi phân tích tỏ vẻ thích thú và cho hay ông rất tin tưởng vào bộ lọc của tôi nên ngỏ ý muốn sở hữu. Tôi có nói với ông Đ. Nếu giá bức tranh từ 5.000usd đổ lại, chắc chắn tôi sẽ mua. Nếu như nằm trong mức từ 5.000 đến 7.000usd thì tôi sẽ phải suy nghĩ. Trường hợp không kham nổi tôi sẽ giới thiệu để ông mua, vì tôi không muốn bức tranh hiếm hoi có giá trị như thế này bị lọt vào tay người khác. Mình không mua được nhường cho người quen vẫn hơn. Ông Đ. đồng ý với tôi về giải pháp này. 

      Sau khi tôi mua bức "Cô gái Hanoi" xong. Ông Đ. đề nghị tôi nhượng lại cho ông với giá 7.000usd. Nhưng tôi từ chối với lý do là mới mua được còn đang rất thích, đồng thời tôi cũng bày tỏ với ông Đ. về lòng đam mê cùng những khao khát tìm hiểu, nhận định về những dấu hiệu có trên bức tranh mà tôi đang muốn đào sâu học hỏi thêm, mong ông thông cảm... Và từ ngày đó trở đi, sự đi lại mỗi ngày một thêm thưa thớt và cho đến khi không còn thấy bóng dáng của ông ghé tiệm của tôi chơi nữa...


    (5)   Tôi nhận dạng được những thuân pháp (皴法) này cũng nhờ vào thời gian học hỏi, tham vấn về Văn minh phương Đông, thư pháp cùng nghệ thuật vùng Viễn Đông với những người bạn chẳng khác gi thày như: Lý Cứ; Lê Anh Minh cùng Phạm Hoàng Quân. Đồng thời cũng theo học lý thuyết về họa pháp thủy mặc với thày dạy bồi tranh Phùng Thọ Thành cùng họa sư Lý Tùng Niên trong Cholon. Trước khi nhận được lời khuyên chí tình chí lý của anh bạn "Vinh Lò Siêu". Mà đã bỏ chơi tranh thủy mặc để quay về chơi tranh Việt Nam. Tôi đặt mỹ danh "Vinh Lò Siêu" này cho anh vì anh có nhà ở đường Lò Siêu, Quận.11. 

      (6)  Theo như lời hắn kể. Với tình huống nhếch nhác của cái bao nylon đựng gạo đầy vôi vữa nằm trong xe ve chai như thế, chứng tỏ gia chủ đã có những buổi dọn dẹp sơn phết lại nhà cửa cho sach sẽ gọn gàng để chuẩn bị đón cái Tết Giáp Thân (2005).Và chắc chắn gia chủ không hề biết có bức tranh để nằm sau lưng tấm bản đồ nên đã đem bán tấm bản đồ cũ rích bụi bặm này cho nguời mua ve chai. 
     - Dựa theo thông tin "Ấn quán Saigon 56" trên tấm bản đồ cho biết nó được in vào năm 1956. Như vây bức tranh được cất dấu sau tấm bản đồ ít nhất cũng phải nằm trong năm 1956 hoặc từ năm này trở về sau, không thể sớm hơn.
    - Không rõ vì lý do gì đã khiến cho chủ nhân đem cất dấu bức tranh này sau lưng tấm bản đồ (Tạm cho vào năm 1956) mà không cho con cháu hoặc thân nhân trong gia đình được hay biết, để rồi sau này (2005). Cả nửa thế kỷ sau mang ra bán ve chai?


     (7)   Một chuyện xảy ra thật tréo ngoe và thật bất ngở về bức tranh "Cô gái Hanoi" này sau cả nửa năm trời. 
      Số là vào tháng 7 năm 2005. Đài truyền hình Tp. HCM phát sóng chương trình "Nhịp sống Saigon", do MC. Thảo Nguyên giới thiệu. Tập phóng sự này gồm có 3 chương với chuyên đề về một số ngành nghề đang phát triển trong thành phố. Chương ba nói về nghề mua bán sách cũ. Và chương này hoàn toàn giới thiệu về hiệu sách cũ Minh Ngọc của tôi. Ngoài sự mô tả về chuyện kinh doanh sách báo cũ ra đoạn phim còn có nhắc đến việc thu mua những phẩm vật có dính dáng đến nghệ thuật và lịch sử nữa. Vì lý do đó mà bức "Cô gái Hanoi" được đưa vào trong đoạn phim này. Thật bất ngờ! Chỉ vài ngày sau khi phát sóng. Vào hôm ấy, sau khi đi công chuyện về, người con lớn báo lại cho tôi biết là mới có một phụ nữ đến cửa hàng muốn gặp tôi để xin chuộc lại bức tranh "Cô gái Hanoi" và cho biết người mẫu trong tranh đích thực là mẹ của bà ta!? Tôi rất lấy làm lạ! Sao mà lại có chuyện này!? và có ý chờ xem sự thể ra sao, nhưng chờ hoài mà chẳng hề thấy người phụ nữ đó quay trở lại... thật lạ đến ngạc nhiên... 
   
 

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

Nguyễn Phi Hoanh và Isaac Levitan với quan điểm về phong cảnh.

 

      Thử tìm hiểu và so sánh quan điểm cũng như góc nhìn về phong cảnh qua hai tác phẩm: "Sự yên tĩnh vĩnh hằng", vẽ vào năm 1894 của họa sĩ Isaac Ilyich Levitan (1860-1900). Và tác phẩm "Đường đi Lương Phú - Mỹ Tho", vẽ vào năm 1937 của họa sĩ Nguyễn Phi Hoanh (1905-2001). Hai tác phẩm ra đời ở hai thế kỷ kế tục nhau, có khoảng cách gần 60 năm. Từ hai quốc gia khác biệt hoàn toàn về văn hóa và nhịp sống xã hội vì khoảng cách địa dư quá rộng lớn. Và cứ tưởng sẽ không bao giờ có sự gặp gỡ hay gần gũi nhau về mọi khía cạnh giữa hai dân tộc. Một ở Bắc bán cầu lạnh lẽo và một ở vùng Xích đạo nóng khô. Việc này thấy rất rõ khi để hai tác phẩm bên cạnh nhau và nhìn riêng rẽ vào từng tác phẩm. Ở mỗi tác phẩm nó đều toát lên đươc cái tính chất đặc trưng vùng miền, cùng sự khác biệt về phong thổ rất rõ ràng không thể nhầm lẫn. Nhưng xét về tư duy và góc nhìn trực quan về môi trường sống. Nó lại cho ta thấy không phải hoàn toàn như vây. Cả hai tác phẩm đều vượt thoát khỏi sự ràng buộc câu thúc về văn hóa vùng miền cùng khoảng cách địa dư môi trường để đi đến vòm trời không có sự dị biệt của tư tưởng và ngôn ngữ hình sắc nghệ thuật đầy ắp tính nhân bản không biên giới. Điều này khiến cho người thưởng lãm bị cuốn hút vào khoảnh khắc mê đắm lịm người mỗi khi đứng trước nó... Thật tuyệt vời! Chỉ có nghệ thuật mới có thể mang đến sự gần gũi trí tuệ giữa con người với nhau một cách dịu êm sâu lắng và bay bổng mà thôi...  



                                                            




                                                                           



Cauminhngoc
16/11/2025



Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

Nguyễn Trí Minh và quả táo trong "Garden of Eden".


Garden of Eden (Vườn Địa Đàng).



Nguyễn Trí Minh. "Garden of Eden". Sơn dầu/bố. Kt: 96cm x 96cm. Năm vẽ: Thập niên 60/TK.20. Chữ ký góc trái dưới.

                                                                           
Thủ bút của HS. Nguyễn Trí Minh.

         Mỗi lần đứng trước tác phẩm Bán Trừu tượng của họa sĩ Nguyễn Trí Minh là mỗi lần thắc mắc về ý tưởng, về hình họa. Cả một rừng sắc độ, mảng nét đan chen phồn tạp rối rắm lồng ghép những hình ảnh mơ hồ không rõ nét nhưng cũng có thể nhận ra được theo chiều không gian ảo thị những dãy phố, lâu đài và cảnh vật đan chen với những vùng tối tăm sâu thẳm. Ấn tượng nhất vẫn là hình ảnh một quả táo bí ẩn đa sắc ở góc phải dưới. Nó gần như ập thẳng vào mắt mỗi khi nhìn vào bức tranh do kích thước khá to lớn của nó mà chả hiểu ý nghĩa gì... Và tất cả chỉ có thế! Một tác phẩm  đầy những hình họa mông lung rối rắm khó hiểu như mọi tác phẩm khác cùng thể loại và sư sơ xuất lớn không thể bỏ qua, là chỉ cố tập trung tìm hiểu xem Nguyễn Trí Minh nói gì với những hình sắc mộng mị đó mà không hề quan tâm đến chủ đề "Garden of Eden" mà tác giả đã ghi bằng bút chì ở mặt sau. Mãi đến khi cất công tìm hiểu và nắm bắt được ý nghĩa của cụm từ "Garden of Eden", mới vỡ lẽ tại sao Nguyễn Trí Minh lại thích danh cho bức tranh này như thế. Mới rõ được hình tướng sâu sắc của quả táo dưới quan điểm và góc nhìn của Nguyễn Trí Minh. "Quả táo" trái cấm trong "Vườn Địa Đàng" cũng là linh hồn của tác phẩm. Nếu như thiếu, không có cụm từ "Garden of Eden". Có lẽ chả biết nói gì về quả táo nữa! Thế mới biết xem và hiểu tranh khó thật không dễ dàng chút nào... 

                                                              ***

Cauminhngoc

18/11/2025


 Thông tin tổng quan do AI tạo    

“Garden of Eden" (Vườn Địa Đàng) là một khu vườn thần thoại trong tôn giáo Do Thái, Kitô giáo và Hồi giáo, nơi Thiên Chúa đã tạo ra A-đam và Ê-va, hai con người đầu tiên. Vườn này được mô tả là một thiên đường trên Trái Đất với điều kiện sống hoàn hảo, cho đến khi A-đam và Ê-va phạm tội và bị trục xuất. Tên gọi "Eden" có thể bắt nguồn từ một từ tiếng Sumer có nghĩa là "đồng bằng" hoặc "thảo nguyên". 

Mô tả trong Kinh Thánh

  • Nguồn gốc: Vườn Địa Đàng được tạo ra bởi Thiên Chúa và là nơi cư ngụ của A-đam và Ê-va sau khi họ được tạo ra.
  • Các loài cây đặc biệt: Trong vườn có hai cây quan trọng: Cây Sự Sống và Cây Biết Điều Thiện Ác. A-đam và Ê-va được phép ăn tất cả các loại trái cây, ngoại trừ trái cây từ Cây Biết Điều Thiện Ác.
  • Sự trục xuất: Sau khi ăn trái cấm, A-đam và Ê-va đã bị Chúa đuổi ra khỏi vườn.
  • Vị trí: Vườn được mô tả nằm ở một nơi có bốn con sông bắt nguồn: Pishon, Gihon, Tigris và Euphrates. Vị trí chính xác của nó vẫn còn là chủ đề tranh luận và có nhiều giả thuyết, có thể là ở vùng Lưỡng Hà (Iraq ngày nay), Vịnh Ba Tư, hoặc xa hơn nữa. 

Ý nghĩa

  • Nguồn gốc của tội lỗi: Câu chuyện về Vườn Địa Đàng là cách giải thích nguồn gốc của tội lỗi và sai lầm của loài người.
  • Ẩn dụ: Đối với nhiều học giả, câu chuyện này mang tính ẩn dụ, minh họa cho sự nổi loạn của con người và hậu quả của việc không vâng lời.
  • Biểu tượng: Vườn Địa Đàng còn được coi là một biểu tượng cho tình yêu và sự hòa hợp, một nơi hoàn hảo trước khi con người "sa ngã".

(Nguồn: Google AI).

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2025

Nhận xét về cái chóe vẽ cây Anh Túc. Khoảng giữa thế kỷ 17.

         Nhận xét về cái chóe vẽ cây Anh Túc. Khoảng giữa thế kỷ 17.

     LTS. Đây là nhận định của một người không chuyên nhưng đam mê thích đào sâu tìm hiểu về những phẩm vật hiện đang lưu giữ trong tay mà người viết thấy rằng cần phải được minh chứng một cách rõ ràng về nguồn gốc cũng như giá trị khảo cứu, tránh những chuyện suy diễn mập mờ vu vơ ảo tưởng không hay. Bài viết này như một bài luận văn, không ngoài mục đích tìm kiếm sự chỉ giáo từ các bậc tri giả chuyên ngành để người viết có dịp trau dồi học hỏi thêm về lãnh vực gốm sứ. Do hiểu biết còn hạn hẹp nên không thể tránh khỏi sự thiếu sót và nông cạn. Rất mong được các bậc trưởng bối và những nhà khảo cứu chuyên ngành bỏ quá đi cho. Xin đa tạ.

                                                                      ***

                    

                                         Hình 01. Chóe vẽ hoa và quả Anh Túc.

                                                                       

        I – Về dáng cách tổng quan, màu sắc và họa tiết.

A – Về dáng cách tổng quan.       

  •          Tên gọi:  Chóe. Đã bị mất nắp trước khi thỉnh về. Phần còn lại nguyên lành không tỳ vết.
  •          Thể loại: Đồ gốm sứ Trung Quốc.
  •           Chất liệu: Đất Cao lanh nung // Độ dày của thai cốt đo ở vành miệng: 05mm.
  •           Chiều cao tính từ cổ đến chân: 370mm // Nặng: 4.100gr.
  •           Họa tiết:  Vẽ tay, mô tả vòng đời cây Anh Túc từ hoa đến quả già nứt vỏ lộ hạt.
  •           Men:  Trắng và Xanh lam xậm.
  •           Chu vi vành cổ: 440mm // Đường kính: 135mm
  •           Chu vi vành ngực: 840mm. (Chỗ lớn nhất)
  •           Chu vi vành eo: 640mm.
  •       Chu vi vành chân: 690mm // Đường kính trôn: 210mm.                                    

       B – Về màu sắc.

      Thân chóe chia làm 4 phần từ trên xuống: Cổ - vai – thân – chân. Toàn bộ được phủ một lớp men trắng làm nền nhìn rất óng ả, nõn nà như trứng gà luộc bóc vỏ. Họa tiết trên chóe chỉ sử dụng duy nhất màu xanh lam xậm, đôi chỗ cặn mực vẽ bám thành những đốm, vệt xậm đen. Do chỉ có 2 màu trắng-xanh nên cái chóe này được xếp vào dòng đồ: Xanh – Trắng.

       C – Về họa tiết.

        Ngoài một số họa tiết thực vật cách điệu ở các vùng: cổ - vai và chân ra, toàn thân chóe được dành để nói về vòng đời của cây Anh Túc. Mô tả từ khi hoa còn non cho đến khi phát triển thành quả già nứt vỏ lộ hạt (xem hình 01).


Hình 02. Chiều cao từng phần họa tiết: Cổ: 25mm. Vai: 45mm. Bụng: 210mm. Chân: 90mm.      

1 – Phần cổ.

      ·        Phần cổ có vẽ họa tiết cao: 25mm.
·        Cách vành miệng chóe chừng 02mm có vẽ một đường chỉ viền quanh khép kín.
·        Mặt vành cổ có vẽ 4 cụm họa tiết thực vật cách điệu nằm đối xứng nhau.
·        Dưới cùng ở chân cổ là 2 đường tròn khép kín, gồm nhiều đoạn ngắn không liền mạch chồng lấp lên nhau.
·        Mặt trong của cổ chóe để mộc không phủ men, mục đích để tạo độ bám với chân nắp khi đậy vào. Khác hẳn với loại không có nắp, bên trong vành miệng luôn được tráng lớp men để tạo độ thẩm mỹ. Về sau này do độ khó khăn phức tạp khi phải để chừa phần thai cốt ở bên trong vành miệng nên các lò gốm đã cho tráng men tất cả bất kể có nắp hay không, tránh mất thời gian (xem Hình 03).

         Hình 03. Hai cặp hoa văn thực vật cách điệu trên cổ chóe.  Vành miệng trong không phủ men để tạo độ bám với chân nắp. Một việc làm khá tỉ mỉ và khó khăn rất mất thời gian.  

                                        
                            Hình 03bis. Miệng chóe chụp cận cảnh. Cho thấy độ đanh, kệt và trơ của thai cốt.                                      

2 – Phần vai.

  •  Phần vai có vẽ họa tiết cao: 45mm. 
  •     Từ hai đường viền ở chân cổ của chóe cách ra chừng 10mm có chạy một đường viền vòng tròn khép kín tạo thành hình vành khăn men trăng trên đỉnh vai không vẽ.
  •       Tiếp giáp với chân vành khăn của vai. Họa tiết được thể hiện có hình răng cưa màu xanh lam xậm hướng lên, đan xen với lớp men trắng răng cưa trên đỉnh vai quay xuống. 
  •         Sau khi các họa tiết vẽ xong, lúc đó mới gắn thêm 4 cái mặt bợm vào, phân vai chóe ra làm 4 vùng đối xứng đều nhau. Biểu tượng của sự ổn định, vững chắc và cân bằng âm dương, đại diện cho bốn phương, bốn mùa và các yếu tố thiêng liêng như Tứ linh, Tứ quý. (Google AI) 
  •     Từng mỗi vùng giữa 2 mặt bợm có điểm xuyết 2 tầng yếm trang trí với 3 cái yếm lá trên nằm đè lên 2 yếm bên dưới. Tổng là con số 5 (Xem hình 06). Những con số:  5; 9; 13...v...v... luôn rơi vào cung “Sinh” của vòng đời “Sinh-Lão-Bệnh-Tử”. Biểu thị cho sự phát triển, khởi đầu mới.



Hình 04. Những họa tiết trên vai chóe. Đặc biệt 4 mặt bợm chỉ thấy xuất hiện vào đời nhà Thanh.


Hình 05. Cận cảnh mặt bợm.

 

Hình 06. Họa tiết yếm lá nằm giữa hai mặt bợm. 


3 - Phần bụng chóe: Họa tiết: Lá - hoa và quả cây Anh Túc.

       Phần bụng có vẽ họa tiết cao: 210mm.  

        Dựa vào phần hình họa trên thân chóe cho thấy các nghệ nhân thời xưa làm việc rất nghiêm túc, mọi họa tiết dù có cách điệu vẫn ẩn chứa sự tính toán rất sâu sắc, thuận lý với thiên niên và cuộc sống chứ không phải vẽ bừa cho có. Hãy nghiệm điều này với sự thể hiện qua những họa tiết trên thân chóe.

        i – Lá Anh Túc. Toàn thân chủ yếu vẽ lá Anh Túc có bản diện khá lớn, với cuống trắng đính hai bên thân cây. Chiếm khoảng 70% diện tích bề mặt thân chóe. Tính từ cằm mặt bợm xuống đến đỉnh chóp cánh búp sen.  


                                            
                             Hình 07. Phần thân chóe vẽ lá và thân cây Anh Túc cách điệu.

      ii – Hoa và quả Anh Túc. Trên thân chóe ngoài cành lá ra còn có vẽ thêm về hoa và quả Anh Túc và được chia làm 2 tầng.

·          * Tầng trên: Vẽ 4 đóa hoa. Chia làm hai cặp đồng dạng nằm đối xứng nhau. Một cặp thể hiện hoa non đang nở bung nhiều cánh và một cặp trưởng thành, nhụy đã phát triển thành bầu nhụy (Xem Hình. 08 & 09).


      
                   Hình 08.  Cặp hoa non đang nở bung cánh để lộ nhụy hoa. Nằm đối xứng nhau.

                                  Hình 09. Cặp hoa với cánh đã già để lộ nhụy hoa phát triển thành bầu nhụy.

  

·           * Tầng dưới vẽ cặp hoa lão hóa và quả Anh Túc.

              Tầng dưới vẽ hai cặp hoa nằm đối xứng. Một cặp đã lão hóa chỉ còn lại lá đài. Và một cặp vẽ bốn quả già héo nứt vỏ để lộ hạt (Xem Hình 10&11).


          
      Hình 10. Hai đóa hoa đã già, héo hết cánh còn lại những lá đài và quả bắt đầu tượng hình. 
    

                 
      Hình 11. Hình vẽ bốn quả Anh Túc đã già héo, tróc vỏ lộ hạt. (Rất dễ bị nhầm lẫn với quả lựu).

       Lưu ý: Họa tiết trên thân chóe mang chủ đề về vòng đời của cây Anh Túc. Diễn tiến từ hoa đến khi có quả già héo để lộ hat. Vì vậy chùm quả ở đây cũng phải là quả Anh Túc chứ không thể là quả lựu cho được.


4 - Phần chân chóe.

      Phần chân có vẽ họa tiết cao: 90mm.

     Họa tiết ở phần chân chóe. Nghệ nhân đã vẽ 13 cánh sen búp dính liền nhau viền giáp chu vi chân chóe. Dựa theo vòng đời: Sinh – Lão - Bệnh – Tử. Con số 13 ứng vào cửa “Sinh”. Một ẩn dụ về phong thủy thường thấy xuất hiện trong xã hội vùng Đông Á.


 Hình 12. Chân chóe vẽ 13 cánh sen búp nối tiếp nhau liên tục viền quanh chân chóe.
 

5 - Phần trôn chóe:

      Phần dưới trôn chóe không có hiệu đề. Toàn bộ trôn chóe được phủ một lớp men khá dày. Bề mặt có một số mụn cóc và khá nhiều lỗ mọt với nhiều dạng khác nhau. Sát vành chân cho thấy lớp men bám vào thai cốt khá lam nham, có chỗ còn dính những hạt cát kê lót. Ở trung tâm trôn chóe có một số vết rạn hình chân chim. Đây không phải viết nứt cũng như không ảnh hưởng gì đến thai cốt.

    Hình 13. Phần mặt trôn chóe được phủ men. Không có hiệu đề. Trên bề mặt lớp men trôn cho thấy có vết rạn chân chim và có nhiều lỗ mọt.


6 – Bên trong lòng chóe.

     Lớp men tráng trong lòng khá dày. Ở nơi vách và đáy chóe đôi chỗ men đọng lại dày hẳn lên đã xảy ra hiện tượng dúm dó. Trên vách cũng cho thấy những vành nọng đồng tâm của thai cốt ửng lộ dưới lớp men khá rõ (Xem Hình 14).

            

Hình 14. Lớp men tráng trong lòng chóe khá dày cùng những mảng dúm dó của men ở vách và đáy chóe. Trên vách thân chóe cho thấy các vòng nọng thai cốt ửng lộ dưới lớp men.

 

II – Nhận xét.

         1 - Một số hiện tượng xuất hiện trên bề mặt cái chóe.

       Quan sát kỹ sẽ thấy một số hiện tượng xuất hiện trên dưới lớp men và họa tiết trên thân chóe.

     a/ Độ lạnh: Do là phẩm vật to lớn nên thân chóe được cấu tạo khá dày để đảm bảo độ bền chắc đã cho cảm nhận có độ mát dịu nhất định khi áp đôi bàn tay vào thân chóe.

      b/ Bọt khí và một vài hiện tượng trên/dưới lớp men phủ.

      Khi nung sản phẩm ở một nhiệt độ cao, tinh thể đất sét (chất tạo hình thai cốt) nóng chảy kết dính với nhau khiến độ ẩm trong thai cốt bốc hơi biến thành những bọt khí thoát ra chui lẫn vào lớp men phủ đang nóng chảy. Sẽ xảy ra một số trường hợp:

      *     Những bọt khí nhỏ li ti khi thoát ra sẽ chui lẫn vào lớp men phủ đang nóng chảy, không thể thoát ra chúng cùng đọng lại, tạo thành lớp đục lờ mờ. Nhìn nghiêng thấy lần sần như vỏ quả cam (xem Hình 22; 23). 

     *     Một số bọt khí phát triển thành hạt lớn hơn thoát ra bị lớp men phủ đang nóng chảy chặn lại đã đùn lên thành những cái gai (như gai mít) hay mụn cóc, mụn ruồi...v...v...(xem Hình 22, 23).

     *     Một số bọt khí kết tụ với nhau thành hạt to, khi thoát ra gặp độ sôi cao đã nổ gây toác lớp men phủ, cho ra những miệng phễu lớn nhỏ. Có chỗ để lộ cả thai cốt bên dưới nhìn rất rõ (xem Hình 24).

    *     Vuốt khắp thân chóe, có nhiều chỗ sần sùi thô ráp bởi những hạt hoặc mụn cóc nổi cộm trên bề mặt lớp men.      

     c/ Những đốm mực xậm màu. Chất Hồi thanh dùng làm mực vẽ lọc không kỹ còn cặn lợn cợn. Những hạt lợn cợn này sẽ bám lại khi tô vẽ họa tiết (xem Hình 26).

    d/ Hiện tượng co rút của lớp men. Khi lớp men đang nóng chảy gặp chỗ thai cốt có tạp chất hoặc dính dầu. Trường hợp này lớp men khi đang nóng chảy bị mất chân sẽ co rút lại để lộ ra lớp thai cốt (xem Hình 25).

    e/ Hỏa biến. Chuyện này thường xảy ra khi lớp cao lanh của thai cốt còn lẫn tạp chất như: oxit sắt, titan, đồng, hoặc mangan, khi gặp nhiệt độ cao bị tan chảy lẫn vào thai cốt, còn tùy vào lượng tạp chất sẽ cho ra sắc độ. Thường thấy là màu đỏ, hồng, nâu xậm... v...v... Ở vành mộc dưới chân chóe chỗ không phủ men có xảy ra hiện tượng này ở đôi chỗ (xem Hình 19; 20).

    f/ Rạn chân chim. Nơi trôn chóe có xuất hiện một số đường rạn. Đây không phải vết nứt mà chỉ là vết rạn chân chim trên bề mặt lớp men qua quá trình tiếp súc với môi trường thiên nhiên lâu dài không ảnh hưởng gì đến thai cốt bên trong (xem Hình 27).


2 - Khác biệt giữa lá - hoa của Cúc dây và hoa Anh Túc.

          a - Hoa và lá cây Cúc dây:

·        Về hoa. Hoa cúc có nhiều cánh nhỏ và nhiều tầng. 

          * Về lá: Lá hoa Cúc nhỏ, ngắn.


Hình 15. Hình ảnh hoa Cúc dây trên đồ gốm sứ thời nhà Minh. (Nguồn: Google&Allan Chong).


      b - Hoa và lá cây Anh Túc:

  •    Hoa có khoảng 4 đến 6 cánh mỏng manh.
  •    Lá lớn, to bản viền cạnh có nhiều răng cưa lớn.


  Hình 16. Chóe vẽ chủ đề về cây Anh Túc.


     3 – Sự giống và khác nhau về họa tiết cánh sen giữa hai thời Minh-Thanh.

          a/ Đời nhà Minh. Thường vẽ các cánh sen còn búp nên thấy đầu cánh sen sẽ nhọn. Và luôn có khoảng hở ở giữa hai cánh sen. Bên trong cánh sen thời Minh có vẽ thêm họa tiết rất đa dạng (Xem Hình 17). So với cánh sen thời nhà Thanh. Bên trong thể hiện rất đơn giản, chỉ là một chuỗi hạt màu trắng chồng lên nhau theo chiều đứng (xem hình 16; 18).




    

       Hình 17. Ảnh đầu tiên. Cánh sen búp còn tương đối rõ. Nhóm hình sau. Cánh sen đã cách điệu, có khoảng hở giữa vai cánh sen. Bên trong cánh sen luôn có vẽ thêm họa tiết (Nguồn: Allan Chong &Google).


           b/ Giai đoạn đầu nhà Thanh. Vẫn sử dụng họa tiết cánh sen búp có đỉnh nhọn. Nhưng có sự khác biệt ở chỗ vai cánh sen dính lền nhau không để khoảng hở như thời nhà Minh. (Xem hình. 18).


Hình 18. Các vai cánh sen vẽ sát nhau không có khoảng hở ở giữa.

      Điển hình ở cái chóe này. Chân chóe vẫn dùng dáng cách của cánh sen búp nhưng những cánh sen có vai dính liền nhau chứ không vẽ cách xa nhau. Phần trong cánh sen họa tiết cũng đơn giản hóa bằng những chuỗi hạt đứng màu trắng chứ không vẽ phức tạp. Phần thân chóe cũng cho thấy có sự vay mượn dáng cách hoa Cúc dây của nhà Minh cải biên thành vòng đời của cây Anh Túc. Phải chăng ở giai đoạn đầu nhà Thanh chưa có quy chuẩn cho việc tạo hình trang trí trên sản phẩm gốm sứ. Do đó các nhóm thợ gốm quen tay vẫn dùng một số kiểu dáng cũ của thời nhà Minh nhưng đã có phần cải cách.

 

III – Hình ảnh về các hiện tượng xuất hiện trên cái chóe.



Hình 19. Một vài dấu hiệu hỏa biến và cát kê lót bám lại ở chân chóe.


             

       Hình 20. Màu hồng nhạt ửng lên ở phần tiếp giáp giữa lớp men phủ và thai cốt do tạp chất kim loại còn lẫn trong thai cốt khi nung ở nhiệt độ cao tươm ra. Vành thai cốt không phủ men ở chân chóe ánh lên độ óng trầm nhẹ tự nhiên, chứng tỏ độ khô đanh rắn chắc của nó. Hiện tượng này chỉ xảy ra ở những phẩm vật gốm sứ có độ sâu tuổi.



     Hình 21. Một mảng lỗ mọt chi chít trên mặt lớp men ở chân chóe. Hiện tượng này có thể do bề mặt cụm bọt khí, trải qua một thời gian dài bị sự ma sát mài mòn đi nên để lộ các lỗ thâm kim li ti bên dưới.

                  
                                        Hình a.                                       Hình b. (copy trên mạng)

      Hình 22. Cận cảnh lớp bọt khí đọng lại dưới lớp men phủ. Trên bề mặt cái chóe Anh Túc (Hình a). Và trên bề mặt món đồ sứ thời nhà Minh (Hình b). Chính lớp bọt khí đọng dưới men đã làm cho sắc độ của họa tiết bị đục mờ đi.


     
                                   Hình a                                                                               Hình b.
    Hình 23. Những lớp bọt khi đùn lên chưa đủ sức phát nổ đã đội lớp men phủ cộm lên thành những mụn cóc (Hình a), mụn cám (Hình b) khiến cho mặt da men trở nên sần sùi và thô ráp.


  
      Hình 24. Khi nung ở nhiệt độ cao, độ ẩm tiềm ẩn trong thai cốt bốc hơi thoát ra ngoài tạo thành bọt khí chui lẫn vào lớp men phủ đang nóng chảy. Khi bọt khí li ti tụ lại thành hạt, gặp độ sôi cao sẽ tăng thể tích giãn nở đến độ cực đại và phát nổ, tùy theo kích thước lớn nhỏ sẽ tạo thành khe, rãnh hoặc nổ toác thành miệng phễu. Trên hình cho thấy mép lớp men ở các miệng phễu cuộn lại có độ dày khá cao và để lộ thai cốt.


         Hình 25. Hình ảnh lớp men phủ bị co lộ thai cốt và những lỗ mọt lốm đốm bên cạnh đã bị lớp men khi nóng chảy phủ lấp để lại sẹo lõm.


         Hình 26. Vết lốm đốm xậm màu do chất hồi thanh dùng làm mực vẽ tán lọc chưa kỹ còn sót cặn lợn cợn. Khi lấy mực chất lợn cợn bám vào ngọn bút lông, lúc tô vẽ sẽ dính lại trên mặt họa tiết. Và lớp bọt khí đọng khắp nơi dưới lớp men nhìn rất rõ. Chính lớp bọt này đã làm cho màu lam hồi bị mờ nhạt đi. Cụ Vương Hồng Sển gọi là “lạc tinh”.



           Hình 27.  Bề mặt lớp men phủ ở trôn chóe xuất hiện vết rạn chân chim tự nhiên và các lỗ mọt do bọt khí thoát ra tạo nên.


IV – Kết luận:                               

     Chiếc chóe vẽ cây Anh Túc này được cho vào khoảng giữa Thế kỷ 17 (thời vua Thuận Trị?). Bởi một số yếu tố thường thấy ở những sản phẩm đầu đời nhà Mãn Thanh như sau:

  •         Không có hiệu đề. 
  •         Còn giữ họa tiết đời Minh và họa tiết phân làm nhiều tầng trên sản phẩm.  
  •        Chất hồi thanh dùng làm mực vẽ có màu lam xậm do lọc không kỹ còn sót những hạt vi tế lợn cợn. Lớp cặn này sẽ để lại những vết lốm đốm trên họa tiết khi vẽ. 
  •        Thai cốt chưa đạt độ tinh luyện. Chất cao lanh (Kaolin) xay nghiền chưa được mịn còn hạt vi tế khiến thai cốt vẫn còn ngậm nước và độ xốp nhất định. Khi nung, tế bào xốp và độ ẩm sẽ thoát hơi biến thành bọt khí chui vào lớp men đang nóng chảy, không thoát ra được sẽ đọng lại thành lớp màng đục và khi bọt khí tích tụ thành hạt bị nhiệt tác động tăng thể tích sẽ phát nổ, sinh ra các hiện tượng: Mụn cám, mụn cóc và các lỗ kim, miệng phễu...v...v... 
  •        Hiện tượng hỏa biến. Thai cốt còn lẫn tạp chất kim loại nên khi nung sẽ xảy ra hiện tượng này.      
  •        Khi dùng bàn tay xoa, vuốt trên bề mặt lớp men cho cảm nhận sần sùi thô ráp không min màng. Và có độ mát lạnh nhất định.  

    Cauminhngoc

      26/9/2025 

Lược sử. Dưới thời trị vì của hai vị vua đầu tiên của nhà Mãn Thanh là Hoàng Thái Cực (1636-1643) (Sáng lập) và Thuận Trị (1644-1661). Xã hội Trung Hoa khi này vẫn chưa ổn định hoàn toàn vì vẫn còn các phong trào phản Thanh phục Minh hoạt động. Do đó chính quyền nhà Thanh phải ra sức củng cố ổn định về mọi mặt, từ chính trị cho đến xã hội. Dẫu vậy ở giai đoạn sơ khai này. Nói riêng về ngành nghề gốm sứ cho thấy có sự hồi sinh và phát triển khá tốt sau thời gian dài xuống cấp vì loạn lạc. Ngoài sự kế thừa những gì của nhà Minh để lại. Các nghệ nhân gốm sứ ở giai đoạn đầu của triều đại Mãn Thanh đã tận dụng, khai thác những kỹ thuật chuyên môn về men, tạo hình và bút pháp của các thời trước rồi phát triển thêm. Sự kết hợp giữa phong cách truyền thống với sự sáng tạo đổi mới của các nghệ nhân đã làm cho các sản phẩm gốm sứ thời Thuận Trị trở nên đa dạng và phong phú rất nhiều. Đặc biệt các sản phẩm gốm sứ dưới thời Thuận Trị chưa sử dụng hiệu đề. Rất có thể do tình hình chính trị nên chưa sử dụng. Phải sang đến triều đại vua Khang Hy (1661-1722) mới thấy có hiệu đề trên sản phẩm gốm sứ.